Sudhābhojanajātaka draft

Sudhābhojanajātaka (Ja 535). There once lived in Benares a wealthy householder, worth eighty crores. He offered his wealth to the king, who, however, had no need for it; so he gave much away in gifts and was born as Sakka. Equally generous were his descendants – Canda, Suriya, Mātali and Pañcasikha. But the next in descent, Pañcasikha’s son, Macchari Kosiya, became a miser. He stopped all giving and lived in abject poverty. One day, seeing his sub-treasurer eating rice porridge, he wished for some himself, but, owing to his miserliness, he went in disguise to the river with a little rice and there started to cook it with the help of a slave. Sakka saw this, and, accompanied by Canda and the others, appeared before him disguised as a Brahmin. Advancing towards him, Sakka asked him the way to Benares, and, pretending to be deaf, approached the place where the porridge was being cooked and asked for some. Macchari Kosiya refused to give him any, but Sakka insisted on reciting to him some stanzas on the value of giving, and then Kosiya agreed to give him a little porridge. One by one the others, also disguised as Brahmins, approached, and, in spite of all his efforts, Kosiya was forced to invite them to share his meal. He asked them to fetch small leaves, but in their hands small leaves became large. After the porridge had been served, Pañcasikha assumed the form of a dog, then of a horse of changing colours, and started chasing Kosiya, while the others stood motionless in the air. Kosiya asked how beings could gain such powers, and Sakka explained to him and revealed their identity. Macchari Kosiya went back to Benares and gave away his wealth in charity. Later he became a hermit and lived in a hut.

At that time the four daughters of SakkaĀsā, Saddhā, Sirī and Hirī – went to Anotatta to play in the water. There they saw Nārada under a pāricchattaka-flower, which served him as a sunshade, and each asked him for the flower. Nārada said he would give it to the best of them, and referred them to Sakka. Sakka sent (by Mātali) a cup of ambrosia (sudhābhojana) to Kosiya, and said that whichever of his daughters succeeded in persuading Kosiya to share with her his drink would be adjudged the best. He listened to all their claims and decided in favour of Hirī. Sakka, wishing to know why he decided thus, sent Mātali in his chariot to ask him. While Mātali was yet speaking to him, Kosiya died and was reborn in Tāvatiṁsa. Sakka gave him Hirī as wife and also a share of the kingdom of Tāvatiṁsa.

The story was told in reference to a monk of Sāvatthī, who was so generous that he would give away his own food and drink and so starve. He is identified with Macchari Kosiya, Uppalavaṇṇā with Hirī, Anuruddha with Pañcasikha, Ānanda with Mātali, Kassapa with Suriya, Moggallāna with Canda, Sāriputta with Nārada, and Sakka with the Bodhisatta himself. Ja.v.382-412.

Sudhābhojanajātaka (Ja 535). Xưa kia ở Benares có một nam cư sĩ giàu có, tài sản trị giá tám mươi crore. Ông đã dâng hiến tài sản của mình cho nhà vua, tuy nhiên nhà vua không cần đến; vì vậy ông đã phân phát phần lớn tài sản để làm quà tặng và được tái sinh làm Sakka. Con cháu của ông cũng hào phóng không kém – Canda, Suriya, MātaliPañcasikha. Nhưng người cháu chắt nối dõi tiếp theo, con trai của Pañcasikha, là Macchari Kosiya, lại trở thành một kẻ keo kiệt. Ông ta ngừng việc bố thí và sống trong cảnh nghèo khổ cùng cực. Một ngày nọ, thấy viên phó thủ quỹ của mình đang ăn cháo gạo, ông ta cũng thèm ăn, nhưng vì bản tính keo kiệt, ông ta đã cải trang đi đến bờ sông với một ít gạo và bắt đầu nấu cháo ở đó với sự giúp đỡ của một nô lệ. Sakka đã nhìn thấy điều này, và cùng với Canda và những người khác, xuất hiện trước mặt ông ta dưới lớp cải trang là một Bà-la-môn. Tiến về phía ông ta, Sakka hỏi đường đến Benares, và giả vờ bị điếc, tiến đến chỗ đang nấu cháo và xin một ít. Macchari Kosiya từ chối cho, nhưng Sakka cứ khăng khăng đọc cho ông ta nghe một số bài kệ về giá trị của sự bố thí, và sau đó Kosiya đồng ý cho ông một ít cháo. Từng người một trong số những người khác, cũng cải trang thành Bà-la-môn, tiến đến, và mặc dù đã cố gắng hết sức, Kosiya vẫn buộc phải mời họ cùng chia sẻ bữa ăn với mình. Ông ta bảo họ đi lấy những chiếc lá nhỏ, nhưng khi vào tay họ những chiếc lá nhỏ lại biến thành những chiếc lá lớn. Sau khi cháo đã được múc ra, Pañcasikha biến thành một con chó, rồi lại biến thành một con ngựa thay đổi màu sắc, và bắt đầu đuổi theo Kosiya, trong khi những người khác đứng bất động trên không trung. Kosiya hỏi làm thế nào chúng sinh có thể đạt được những quyền năng như vậy, và Sakka đã giải thích cho ông ta và tiết lộ thân phận thật của họ. Macchari Kosiya quay trở về Benares và đem phân phát của cải của mình để làm việc thiện. Về sau ông trở thành một đạo sĩ ẩn cư và sống trong một túp lều.

Vào thời gian đó bốn người con gái của Sakka – Āsā, Saddhā, SirīHirī – đã đến Anotatta để chơi đùa trong nước. Ở đó họ nhìn thấy Nārada dưới một bông hoa pāricchattaka, bông hoa được ông dùng như một chiếc ô che nắng, và mỗi người đều xin ông bông hoa đó. Nārada nói rằng ông sẽ tặng nó cho người giỏi nhất trong số họ, và bảo họ hãy đến hỏi Sakka. Sakka đã phái Mātali mang một chén cam lộ (sudhābhojana) đến cho Kosiya, và nói rằng bất kỳ người con gái nào thuyết phục được Kosiya chia sẻ thức uống của ông ta với mình sẽ được đánh giá là người giỏi nhất. Ông lắng nghe tất cả những lời thỉnh cầu của họ và quyết định nghiêng về Hirī. Sakka, muốn biết lý do tại sao ông ta lại quyết định như vậy, đã phái Mātali cưỡi cỗ xe của mình đến để hỏi. Trong khi Mātali vẫn đang nói chuyện với ông ta, thì Kosiya qua đời và được tái sinh ở Tāvatiṁsa. Sakka đã gả Hirī cho ông làm vợ và cũng chia cho ông một phần vương quốc Tāvatiṁsa.

Câu chuyện này được kể liên quan đến một tỳ-kheo ở Sāvatthī, một người vô cùng hào phóng đến mức ngài có thể cho đi cả thức ăn và nước uống của chính mình để rồi phải chịu nhịn đói. Vị đó được đồng nhất với Macchari Kosiya, Uppalavaṇṇā là Hirī, Anuruddha là Pañcasikha, Ānanda là Mātali, Kassapa là Suriya, Moggallāna là Canda, Sāriputta là Nārada, và Sakka là chính Bodhisatta. Ja.v.382-412.