Vakkali draft
01. Vakkali 01 draft
Vakkali 01. Vakkali Thera. He belonged to a Brahmin family of Sāvatthī and became proficient in the three Vedas. After he once saw the Buddha he could never tire of looking at him, and followed him about. In order to be closer to him he became a monk, and spent all his time, apart from meals and bathing, in contemplating the Buddha’s person. One day the Buddha said to him, “The sight of my foul body is useless; he who sees the Dhamma, he it is that sees me” (yo kho dhammaṁ passati so maṁ passati; yo maṁ passati so dhammaṁ passati) (Cp. Iti.92). But even then Vakkali would not leave the Buddha till, on the last day of the rains, the Buddha commanded him to depart. Greatly grieved, Vakkali sought the precipices of Gijjhakūṭa. The Buddha, aware of this, appeared before him and uttered a stanza; then stretching out his hand, he said: “Come, monk.” Filled with joy, Vakkali rose in the air pondering on the Buddha’s words and realized Arahant-ship. ANa.i.140f.; the Apadāna account (Ap.ii.465f.) is similar. It says that the Buddha spoke to him from the foot of the rock. Vakkali jumped down to meet the Buddha, a depth of many cubits, but he alighted unhurt. It was on this occasion that the Buddha declared his eminence among those of implicit faith; also Dhpa.iv.118f. The Dhammapada Commentary reports three verses uttered by the Buddha in which he assures Vakkali that he will help him and look after him.
According to the Theragāthā Commentary (Thaga.i.420), when Vakkali was dismissed by the Buddha he lived on Gijjhakūṭa, practising meditation, but could not attain insight because of his emotional nature (saddhā). The Buddha then gave him a special exercise, but neither could he achieve this, and, from lack of food, he suffered from cramp. The Buddha visited him and uttered a verse to encourage him. Vakkali spoke four verses (Thag.350-4) in reply, and, conjuring up insight, won Arahant-ship. Later, in the assembly of the monks, the Buddha declared him foremost among those of implicit faith (saddhādhimuttānaṁ) (cp. AN.i.25; also Divy.49 and Vibha.276; Vsm.i.129). In the Pārāyaṇavagga (Snp. vs. 1146) the Buddha is represented as holding Vakkali up to Piṅgiya as an example of one who won emancipation through faith.
The Saṁyutta account (SN.iii.119ff.; SNa.ii.229) gives more details and differs in some respects from the above. There, Vakkali fell ill while on his way to visit the Buddha at Rājagaha, and was carried in a litter to a potter’s shed in Rājagaha. There, at his request, the Buddha visited him and comforted him. He questioned Vakkali, who assured him that he had no cause to reprove himself with regard to morals (sīlato); his only worry was that he had not been able to see the Buddha earlier. The Buddha told him that seeing the Dhamma was equivalent to seeing him, and because Vakkali had realized the Dhamma, there would be no hereafter for him. After the Buddha had left, Vakkali asked his attendants to take him to Kāḷasilā on Isigili. The Buddha was on Gijjhakūṭa and was told by two Devas that Vakkali was about to “obtain release.” The Buddha sent word to him: “Fear not, Vakkali, your dying will not be evil.” Vakkali rose from his bed to receive the Buddha’s message, and sending word to the Buddha that he had no desire or love for the body or the other khandhas, he drew a knife and killed himself. The Buddha went to see his body, and declared that he had obtained Nibbāna and that Māra’s attempt to find the consciousness of Vakkali would prove useless.
The Commentary adds that Vakkali was conceited and blind to his remaining faults. He thought he was a khīṇāsava, and that he might rid himself of bodily pains by death. However, the stab with the knife caused him such pain that at the moment of dying he realized his puthujjana state, and, putting forth great effort, attained Arahant-ship.
His resolve to become chief among the saddhādhimuttas had been made in the time of Padumuttara Buddha, when he saw a monk also named Vakkali similarly honoured by the Buddha. Ap.ii.465f.; ANa.i.140.
Vakkali 01. Vakkali Trưởng lão. Ông thuộc một gia đình Bà-la-môn ở Sāvatthī và thông thạo ba bộ Veda. Sau khi một lần nhìn thấy Đức Phật, ông không bao giờ chán ngắm Ngài, và đi theo Ngài khắp nơi. Để được gần Ngài hơn, ông trở thành tỳ-kheo và dành toàn bộ thời gian, ngoài giờ ăn và tắm rửa, để chiêm ngưỡng thân tướng Đức Phật. Một ngày Đức Phật nói với ông: "Việc nhìn thân xác ô uế của ta là vô ích; ai thấy Pháp, người đó mới thấy ta" (yo kho dhammaṁ passati so maṁ passati; yo maṁ passati so dhammaṁ passati) (Cp. Iti.92). Nhưng ngay cả lúc đó Vakkali cũng không chịu rời Đức Phật cho đến khi, vào ngày cuối cùng của mùa an cư, Đức Phật truyền lệnh cho ông rời đi. Vô cùng đau khổ, Vakkali tìm đến vách đá của Gijjhakūṭa. Đức Phật, biết điều này, hiện ra trước ông và đọc một bài kệ; rồi dang tay ra, Ngài nói: "Hãy đến, tỳ-kheo." Tràn đầy hỷ lạc, Vakkali bay lên không trung quán chiếu lời Đức Phật và chứng đắc quả vị Arahant. ANa.i.140f.; tường thuật trong Apadāna (Ap.ii.465f.) cũng tương tự. Tường thuật đó nói rằng Đức Phật đã nói với ông từ chân tảng đá. Vakkali nhảy xuống để gặp Đức Phật, từ độ cao nhiều khuỷu tay, nhưng ông hạ xuống bình an vô sự. Nhân dịp này, Đức Phật tuyên bố ông đứng đầu trong số những người có niềm tin không lay chuyển; also Dhpa.iv.118f. Dhammapada Commentary ghi lại ba bài kệ mà Đức Phật đọc trong đó Ngài bảo đảm với Vakkali rằng Ngài sẽ giúp đỡ và chăm sóc ông.
Theo Chú giải Theragāthā (Thaga.i.420), khi Vakkali bị Đức Phật cho rời đi, ông sống trên Gijjhakūṭa, thực hành thiền định, nhưng không thể đắc tuệ vì tính cách tình cảm (saddhā) của ông. Đức Phật sau đó cho ông một đề mục đặc biệt, nhưng ông cũng không thể thực hiện được, và vì thiếu thức ăn, ông bị chuột rút. Đức Phật đến thăm ông và đọc một bài kệ để khích lệ. Vakkali đọc bốn bài kệ (Thag.350-4) đáp lại, và khi triển khai tuệ giác, ông đắc quả vị Arahant. Sau đó, trong hội chúng tỳ-kheo, Đức Phật tuyên bố ông đứng đầu trong số những người có niềm tin không lay chuyển (saddhādhimuttānaṁ) (cp. AN.i.25; also Divy.49 and Vibha.276; Vsm.i.129). Trong Pārāyaṇavagga (Snp. vs. 1146), Đức Phật được mô tả là nêu Vakkali làm gương cho Piṅgiya về người đắc giải thoát nhờ đức tin.
Tường thuật trong Saṁyutta (SN.iii.119ff.; SNa.ii.229) cung cấp thêm chi tiết và khác với phần trên ở một số điểm. Ở đó, Vakkali lâm bệnh trên đường đến thăm Đức Phật tại Rājagaha, và được khiêng cáng đến một nhà thợ gốm ở Rājagaha. Tại đó, theo yêu cầu của ông, Đức Phật đến thăm và an ủi ông. Ngài hỏi thăm Vakkali, người bảo đảm với Ngài rằng ông không có lý do gì để tự trách bản thân về mặt giới hạnh (sīlato); điều lo lắng duy nhất của ông là ông đã không thể gặp Đức Phật sớm hơn. Đức Phật bảo ông rằng thấy Pháp tương đương với thấy Ngài, và vì Vakkali đã thực chứng Pháp, ông sẽ không còn kiếp sau nữa. Sau khi Đức Phật rời đi, Vakkali yêu cầu những người hầu hạ mang ông đến Kāḷasilā trên núi Isigili. Đức Phật đang trên Gijjhakūṭa và được hai chư thiên báo tin rằng Vakkali sắp "đắc giải thoát". Đức Phật gửi lời nhắn đến ông: "Đừng sợ, Vakkali, cái chết của ông sẽ không ác." Vakkali ngồi dậy từ giường bệnh để nhận tin nhắn của Đức Phật, và gửi lời đến Đức Phật rằng ông không có ham muốn hay luyến ái đối với thân xác hay các khandha khác, ông rút dao và tự sát. Đức Phật đến xem thi thể ông và tuyên bố rằng ông đã đắc Nibbāna và nỗ lực của Māra tìm kiếm thức của Vakkali sẽ vô ích.
Chú giải bổ sung rằng Vakkali kiêu mạn và mù quáng trước những lỗi lầm còn sót lại của mình. Ông nghĩ mình là một vị khīṇāsava, và rằng ông có thể thoát khỏi những đau đớn thể xác bằng cái chết. Tuy nhiên, vết đâm bằng dao gây cho ông đau đớn đến mức vào giây phút hấp hối ông nhận ra trạng thái phàm phu của mình, và cố gắng nỗ lực tột bậc, đắc quả vị Arahant.
Quyết tâm trở thành đệ tử đứng đầu trong số những saddhādhimuttas của ông đã được lập vào thời Padumuttara Buddha, khi ông thấy một tỳ-kheo cũng tên Vakkali được Đức Phật vinh danh tương tự. Ap.ii.465f.; ANa.i.140.
02. Vakkali 02 draft
Vakkali 02. A monk in the time of Padumuttara Buddha, declared chief of those having implicit faith. Thaga.i.422; Ap.ii.466.
Vakkali 02. Một tỳ-kheo thời Padumuttara Buddha, được tuyên bố đứng đầu trong số những người có niềm tin không lay chuyển. Thaga.i.422; Ap.ii.466.