Piṅgiya draft

01. Piṅgiya 01 draft

Piṅgiya 01. Chaplain to Brahmadatta, king of Benares. He was a former birth of Devadatta (Ja.iii.161). His story is given in the Dhonasākhajātaka (Ja 353) (q.v.).

Piṅgiya 01. Vị tư tế của Brahmadatta, vua xứ Benares. Ông là một tiền kiếp của Devadatta (Ja.iii.161). Câu chuyện của ông được kể trong Dhonasākhajātaka (Ja 353) (q.v.).

02. Piṅgiya 02 draft

Piṅgiya 02. Called Piṅgiya māṇava, nephew and pupil of Bāvarī. At the time that he visited the Buddha with the other disciples he was 120 years old and very feeble. At the end of his discussion with the Buddha, as recorded in the Piṅgiyasutta (Snp. vs. 1120-23), because of his feebleness, he failed to reach any attainment. Thereupon he praised the Buddha and begged of him to go on. The Buddha preached to him further, and he became an Anāgāmī, failing, however, to attain Arahant-ship because his mind wandered to his maternal uncle, Bāvarī. His one thousand pupils, however, became Arahants. Later, with the Buddha’s leave, he visited Bāvarī and told him the glad tidings, describing the Buddha’s glory (Snp.vs.1131-45). At the end of his statement, the Buddha, seeing that the minds of both of them were mature, sent forth a ray of light from Sāvatthī and, appearing before them, preached to them. Thereupon Bāvarī became an Anāgāmī and Piṅgiya an Arahant (Snp­a.ii.603ff).

Piṅgiya was called māṇava, even at the age of 120! (Snp­a.ii.413).

Piṅgiya 02. Được gọi là thanh niên (māṇava) Piṅgiya, là cháu trai và học trò của Bāvarī. Vào thời điểm ngài cùng các đệ tử khác đến thăm Đức Phật, ngài đã 120 tuổi và rất yếu ớt. Cuối cuộc thảo luận với Đức Phật, như được ghi lại trong Piṅgiyasutta (Snp. vs. 1120-23), vì sự yếu ớt của mình, ngài đã không đạt được sự chứng đắc nào. Sau đó ngài tán thán Đức Phật và cầu xin Ngài nói tiếp. Đức Phật đã thuyết pháp thêm cho ngài, và ngài trở thành một vị Anāgāmī, tuy nhiên lại không đạt được quả vị Arahant vì tâm trí ngài phân tán đến cậu của mình, Bāvarī. Tuy nhiên, một ngàn người học trò của ngài đã trở thành bậc Arahant. Về sau, với sự cho phép của Đức Phật, ngài đến thăm Bāvarī và báo cho ông tin mừng này, mô tả về sự vinh quang của Đức Phật (Snp.vs.1131-45). Kết thúc lời trình bày của ngài, Đức Phật, thấy rằng tâm trí của cả hai người đã chín muồi, đã phát ra một tia sáng từ Sāvatthī và, xuất hiện trước mặt họ, thuyết pháp cho họ. Qua đó Bāvarī trở thành một vị Anāgāmī và Piṅgiya trở thành một vị Arahant (Snp­a.ii.603ff).

Piṅgiya được gọi là thanh niên (māṇava), ngay cả khi đã 120 tuổi! (Snp­a.ii.413).

03. Piṅgiya 03 draft

Piṅgiya 03. One of the seven anāgamīs born in the Avihā world, in the company of Ghaṭīkāra (SN.i.35, 60). He is described as a bhikkhu, and is therefore probably identical with Piṅgiya (2). The story of the latter having attained Arahant-ship must, in that case, have been a later legend. It is also possible that Piṅgiya is a variant reading for Piṅgiyānī.

Piṅgiya 03. Một trong bảy vị anāgāmī sinh vào cõi Avihā, cùng với Ghaṭīkāra (SN.i.35, 60). Ngài được miêu tả như một tỳ-kheo (bhikkhu), và do đó có thể là cùng một người với Piṅgiya (2). Câu chuyện về người thứ hai đạt được quả vị Arahant, trong trường hợp đó, hẳn là một truyền thuyết ra đời muộn hơn. Cũng có thể Piṅgiya là một cách đọc khác cho Piṅgiyānī.

04. Piṅgiya 04 draft

Piṅgiya 04. A dog, mentioned in the Pūtimaṁsajātaka. Ja.iii.535.

Piṅgiya 04. Một con chó, được đề cập trong Pūtimaṁsajātaka. Ja.iii.535.