Aggāḷavacetiya draft
Aggāḷavacetiya. The chief shrine at Āḷavī (Snp-a.i.344; SNa.i.207) (hence probably the name), originally a pagan place of worship, but later converted into a Buddhist vihāra. The Buddha stopped here on many occasions during his wanderings, and this was the scene of several Vinaya rules, e.g. against monks digging the ground (Vin.iv.32) and cutting trees (Vin.iv.34), using unfiltered water for building purposes (Vin.iv.48), sleeping in the company of novices (Vin.iv.16), giving new buildings in hand (Vin.ii.172f).
The Chabbaggiyā are censured here for a nissaggiya offence (Vin.iii.224). The Vaṅgīsasutta was preached there to Vaṅgīsa, on the occasion of the death of his preceptor, Nigrodhakappa (Sn.59f). In the early years of Vaṅgīsa’s novitiate he stayed at the shrine with his preceptor, and disaffection arose within him twice, once because of women, the second time because of his tutor’s solitary habits (SN.i.185-6), and later, again, through pride in his own powers of improvisation (paṭibhāna) (SN.i.187). Here, again, the Buddha utters the praises of Hatthaka Āḷavaka, who visits him with a large following, whose fealty has been won (according to Hatthaka) by observing the four characteristics of sympathy (saṅgahavatthūni) learnt from the Buddha (AN.iv.216-20).
Many lay-women and nuns flocked there by day to hear the Buddha preach, but none were there when he preached in the evenings (Ja.i.160). It was here that the Maṇikaṇṭhajātaka was related (Ja.ii.282), also the Brahmadattajātaka (Ja.iii.78), and the Aṭṭhisenajātaka (Ja.iii.351), all in connection with the rules for building cells. See also Āḷavī.
Aggāḷavacetiya. Ngôi đền chính tại Āḷavī (Snp-a.i.344; SNa.i.207) (vì vậy có lẽ có tên ấy), ban đầu là một nơi thờ tự ngoại giáo, nhưng về sau được chuyển thành một vihāra Phật giáo. Đức Phật dừng lại tại đây trong nhiều dịp khi du hành, và nơi này là bối cảnh của nhiều điều luật Vinaya, chẳng hạn như các điều cấm các vị sư đào đất (Vin.iv.32) và chặt cây (Vin.iv.34), dùng nước chưa lọc cho việc xây dựng (Vin.iv.48), ngủ cùng chỗ với sa-di (Vin.iv.16), và giao phó việc xây các công trình mới (Vin.ii.172f).
Các Chabbaggiyā bị khiển trách tại đây vì một tội nissaggiya (Vin.iii.224). Vaṅgīsasutta được thuyết giảng tại đó cho Vaṅgīsa, nhân dịp thầy tế độ của ông, Nigrodhakappa, qua đời (Sn.59f). Trong những năm đầu thời sa-di của Vaṅgīsa, ông ở tại ngôi đền cùng thầy tế độ, và sự bất mãn khởi lên trong ông hai lần, một lần vì phụ nữ, lần thứ hai vì thói quen sống một mình của thầy dạy ông (SN.i.185-6), và về sau lại do lòng kiêu hãnh về năng lực ứng tác (paṭibhāna) của chính mình (SN.i.187). Cũng tại đây, Đức Phật lại tán thán Hatthaka Āḷavaka, người đến thăm Ngài với một đoàn tùy tùng đông đảo, mà lòng trung thành của họ đã được thu phục (theo Hatthaka) bằng cách thực hành bốn đặc tính của sự nhiếp phục (saṅgahavatthūni) học được từ Đức Phật (AN.iv.216-20).
Nhiều nữ cư sĩ và Tỳ-kheo-ni kéo đến đó vào ban ngày để nghe Đức Phật thuyết giảng, nhưng không ai có mặt khi Ngài thuyết giảng vào buổi tối (Ja.i.160). Chính tại đây Maṇikaṇṭhajātaka được kể lại (Ja.ii.282), cũng như Brahmadattajātaka (Ja.iii.78), và Aṭṭhisenajātaka (Ja.iii.351), tất cả đều liên quan đến các điều luật về xây cốc liêu. Xem thêm Āḷavī.