Jambuka draft

01. Jambuka 01 draft

Jambuka 01. Jambuka Thera. He was born in Rājagaha of rich parents but from infancy he would eat nothing but excrement. When he grew older he was ordained with the Ājīvakas, who pulled out his hair with a palmyra comb. When the Ājīvakas discovered that he ate filth, they expelled him and he lived as a naked ascetic, practising all kinds of austerities and accepting no offerings save butter and honey placed on the tip of his tongue with the point of a blade of grass. His fame spread far. When he was fifty-five years old, the Buddha visited him and spent the night in a cave near his abode. During the night, Jambuka saw mighty gods come to pay homage to the Buddha and was so impressed that the next day he sought the Buddha’s counsel. The Buddha told him of his past evil deeds which had condemned him to practise austerities for so long and counselled him to give up his evil ways. In the course of the sermon, Jambuka grew ashamed of his nakedness and the Buddha gave him a bath-robe. At the end of the discourse Jambuka became an Arahant, and when the inhabitants of Aṅga and Magadha came to him with their offerings, he performed a miracle before them and paid homage to the Buddha, acknowledging him as his teacher.

In the time of Kassapa Buddha, Jambuka was a monk and had a lay patron who looked after him. One day a pious monk came to his vihāra, and the layman, being pleased with him, showed him much attention. The resident monk, very jealous, reviled the visitor, saying, “It would be better for you to eat filth than food in this layman’s house, to tear your hair with a palmyra comb than let his barber cut it for you, to go naked than wear robes given by him, to lie on the ground than on a bed provided by him.” The Elder, not wishing to be the cause of his sinning, left the monastery the next day. Because of this act, the meditations practised by Jambuka for twenty thousand years were of no avail, and he was born in Avīci, where he suffered torments during an interval between two Buddhas. In this last life, too, he was condemned to suffer in many ways, as related above (Dhp­a.ii.52-63; Thag.283-6; Thag­a.i.386f).

In the time of Tissa Buddha he was a householder and made offerings at the Buddha’s Bodhi-tree, fanning the Buddha’s seat with a fan. He is probably identical with Sīhāsanavījanīya of the Apadāna (Ap.ii.403).

It is said (Mil.350; AN­a.i.57) that when the Buddha preached to Jambuka, eighty-four thousand others realised the Truth.

Jambuka 01. Jambuka Thera. Ngài sinh ra ở Rājagaha trong gia đình cha mẹ giàu có nhưng từ thuở sơ sinh ngài không chịu ăn gì ngoài phân. Khi lớn lên ngài được thọ giới cùng với các tu sĩ ngoại đạo Ājīvaka, những người đã nhổ tóc ngài bằng một chiếc lược làm bằng gỗ thốt nốt. Khi những người Ājīvaka phát hiện ra ngài ăn đồ uế tạp, họ đã đuổi ngài đi và ngài sống như một đạo sĩ lõa thể, thực hành mọi loại khổ hạnh và không nhận đồ cúng dường nào ngoại trừ bơ và mật ong được đặt trên đầu lưỡi bằng đầu một ngọn cỏ. Danh tiếng của ngài vang xa. Khi ngài năm mươi lăm tuổi, Đức Phật đã đến viếng thăm ngài và trải qua đêm trong một hang động gần nơi ở của ngài. Trong đêm đó, Jambuka nhìn thấy những vị thần hùng mạnh đến đảnh lễ Đức Phật và ngài đã vô cùng ấn tượng đến nỗi ngày hôm sau ngài đã tìm đến lời khuyên của Đức Phật. Đức Phật nói cho ngài nghe về những ác nghiệp trong quá khứ đã kết án ngài phải thực hành khổ hạnh trong một thời gian dài như vậy và khuyên ngài nên từ bỏ những ác đạo của mình. Trong suốt bài thuyết pháp, Jambuka ngày càng cảm thấy xấu hổ về sự lõa thể của mình và Đức Phật đã đưa cho ngài một mảnh y tắm. Vào lúc kết thúc bài pháp, Jambuka đã trở thành một vị Arahant, và khi những người dân của AṅgaMagadha đến gặp ngài mang theo những món đồ cúng dường của họ, ngài đã thi triển một phép thần thông trước mặt họ và đảnh lễ Đức Phật, thừa nhận ngài là bậc đạo sư của mình.

Vào thời Kassapa Buddha, Jambuka là một tỳ-kheo và có một người cư sĩ hộ độ lo liệu cho ngài. Một ngày nọ, một tỳ-kheo mộ đạo đã đến vihāra của ngài, và người cư sĩ kia, do hài lòng với vị này, đã dành cho vị này nhiều sự quan tâm. Tỳ-kheo cư trú ở đó, rất đỗi ghen tị, đã chửi bới người khách, nói rằng: "Thà ông ăn phân còn hơn là ăn thức ăn trong nhà của người cư sĩ này, thà nhổ tóc bằng lược thốt nốt còn hơn là để thợ cạo của ông ấy cắt tóc cho ông, thà đi lại trần truồng còn hơn là mặc y do ông ấy cúng dường, thà nằm trên đất còn hơn là nằm trên chiếc giường do ông ấy cung cấp". Vị Trưởng lão kia, không muốn trở thành nguyên nhân khiến ngài phạm tội, đã rời bỏ tu viện vào ngày hôm sau. Bởi vì hành động này, những thiền định do Jambuka thực hành trong suốt hai mươi ngàn năm đã không mang lại kết quả gì, và ngài đã bị tái sinh vào Avīci, nơi ngài phải chịu đựng những sự tra tấn trong khoảng thời gian giữa hai vị Phật. Trong kiếp sống cuối cùng này, ngài cũng bị kết án phải chịu khổ bằng nhiều cách, như đã được thuật lại ở trên (Dhp­a.ii.52-63; Thag.283-6; Thag­a.i.386f).

Vào thời Tissa Buddha ngài là một gia chủ và đã thực hiện những việc cúng dường tại cây bodhi của Đức Phật, dùng một chiếc quạt để quạt cho chỗ ngồi của Đức Phật. Ngài có lẽ cũng chính là Sīhāsanavījanīya của Apadāna (Ap.ii.403).

Có nói (Mil.350; AN­a.i.57) rằng khi Đức Phật thuyết pháp cho Jambuka, tám mươi tư ngàn người khác đã chứng ngộ Chân lý.

02. Jambuka 02 draft

Jambuka 02. A parrot, an incarnation of the Bodhisatta, adopted as his son by Brahmadatta, king of Benares. He preached to the king on the fivefold power – of limbs, of wealth, of counsel, of caste and of wisdom – the last being the best. The king thereupon appointed him commander-in-chief. Ja.v.111, 120, 125.

Jambuka 02. Một con vẹt, một hóa thân của Bodhisatta, được Brahmadatta, vua xứ Benares, nhận làm con trai. Nó đã thuyết giảng cho nhà vua về năm loại sức mạnh – sức mạnh của tay chân, của sự giàu có, của lời khuyên, của đẳng cấp và của trí tuệ – trong đó sức mạnh cuối cùng là tốt nhất. Nhà vua sau đó đã bổ nhiệm nó làm tổng tư lệnh. Ja.v.111, 120, 125.

03. Jambuka 03 draft

Jambuka 03. A dog, companion of the she-goat in the Pūtimaṁsajātaka (Ja 437). Ja.iii.535.

Jambuka 03. Một con chó, người bạn đồng hành của con dê cái trong Pūtimaṁsajātaka (Ja 437). Ja.iii.535.