Sundarī draft
01. Sundarī 01 draft
Sundarī 01. An Aggasāvikā of Anomadassī Buddha. Ja.i.36; Bv.viii.23.
Sundarī 01. Một nữ đệ tử tối thắng (Aggasāvikā) của Anomadassī Buddha. Ja.i.36; Bv.viii.23.
02. Sundarī 02 draft
Sundarī 02. Sundarī Therī. She was born in Benares as the daughter of the Brahmin Sujāta (see Sujāta 09). When her father joined the Saṅgha at Mithilā and sent his charioteer home, Sundarī, with her mother’s consent, gave all away and joined the Saṅgha, attaining Arahant-ship in due course. Then one day, with the leave of her teacher, she left Benares, accompanied by a large number of nuns, and, visiting the Buddha at Sāvatthī, uttered her “lion’s roar.”
Thirty-one kappas ago she was born in a clansman’s family, and seeing Vessabhū Buddha begging for alms, gave him a ladleful of food. Fifty times she became the wife of Cakkavattis. Thīg.vss.326-332; Thīga.228f.
Sundarī 02. Sundarī Therī. Bà sinh ra ở Benares là con gái của Bà-la-môn Sujāta (xem Sujāta 09). Khi cha bà gia nhập Tăng đoàn ở Mithilā và gửi người đánh xe ngựa về nhà, Sundarī, với sự đồng ý của mẹ, đã cho đi tất cả và gia nhập Tăng đoàn, về sau chứng quả vị Arahant. Rồi một ngày nọ, với sự cho phép của thầy mình, bà rời Benares, cùng với một số lượng lớn các tỳ-kheo-ni, và đến thăm Đức Phật tại Sāvatthī, đã thốt lên “tiếng rống của sư tử” của mình.
Ba mươi mốt kappa trước, bà sinh ra trong gia đình của một người tộc trưởng, và khi thấy Vessabhū Buddha đang khất thực, đã cúng dường Ngài một vá thức ăn. Năm mươi lần bà đã trở thành vợ của các Cakkavatti. Thīg.vss.326-332; Thīga.228f.
03. Sundarī 03 draft
Sundarī 03. Sundarikā. A Paribbājikā. She listened to the persuasions of her colleagues, the heretics, and would be seen in the evenings going towards Jetavana with garlands, perfumes, fruits, etc. When asked where she was going, she would reply that she was going to spend the night in the Buddha’s cell. She would then spend it in a neighbouring monastery of the Paribbājakas and be seen again early in the morning coming from the direction of Jetavana. After some days, the heretics hired some villains to kill Sundarī and hide her body under a heap of rubbish near Jetavana. Then they raised a hue and cry and reported to the king that Sundarī was missing. A search was made, and her body was found near the Gandhakuṭi of the Buddha. Placing the body on a litter, they went about the streets of the city crying: “Behold the deeds of the Sākyan monks!” As a result, the monks were subjected to great insults in the streets. For seven days the Buddha stayed in the Gandhakuṭi, not going to the city for alms, and Ānanda even suggested that they should go to another city.
But the Buddha pointed out to him the absurdity of running away from a false report, and said that in seven days the truth would be known. The king employed spies, who found the murderers quarrelling among themselves after strong drink. They were seized and brought before the king, where they confessed their crime. The king sent for the heretics and compelled them to retract their accusations against the Buddha and his monks and to confess their own wickedness. They were then punished for murder. Ud.iv.8; Uda.256ff.; Dhpa.iii.474f.; Snpa.ii.528f.; Ja.ii.415f.
It is said (Ap.i.299; Uda.263) that once the Bodhisatta was a pleasure seeker named Munāli. One day he saw Surabhi, a Pacceka Buddha, putting on his outer robe just outside the city. Near by a woman was walking, and Munāli said in jest, “Look, this recluse is no celibate, but a rake.” It was this utterance of the Bodhisatta that brought to the Buddha, as retribution, the disgrace in connection with Sundarī.
The Duṭṭhakasutta and the Maṇisūkarajātaka (Ja 285) were preached in this connection.
Sundarī 03. Sundarikā. Một nữ du sĩ ngoại đạo (Paribbājikā). Cô đã nghe theo những lời thuyết phục của các đồng nghiệp của mình, những kẻ ngoại đạo, và thường được nhìn thấy vào buổi tối đi về phía Jetavana với những vòng hoa, nước hoa, trái cây, v.v. Khi được hỏi cô đang đi đâu, cô sẽ trả lời rằng cô sẽ qua đêm trong phòng của Đức Phật. Sau đó cô sẽ ngủ lại trong một tu viện lân cận của các Paribbājaka và lại được nhìn thấy vào sáng sớm đang đi từ hướng Jetavana. Sau vài ngày, những kẻ ngoại đạo đã thuê một số tên vô lại để giết Sundarī và giấu xác cô dưới một đống rác gần Jetavana. Rồi chúng lu loa lên và báo với nhà vua rằng Sundarī bị mất tích. Một cuộc tìm kiếm được tiến hành, và xác cô được tìm thấy gần Gandhakuṭi của Đức Phật. Đặt cái xác lên một chiếc cáng, chúng đi khắp các đường phố hô lớn: “Hãy nhìn những hành động của các tỳ-kheo người Sākyan!” Kết quả là, các tỳ-kheo đã phải chịu đựng những lời sỉ nhục lớn trên đường phố. Trong bảy ngày Đức Phật ở lại trong Gandhakuṭi, không vào thành để khất thực, và Ānanda thậm chí còn đề nghị rằng họ nên đi đến một thành phố khác.
Nhưng Đức Phật đã chỉ ra cho ngài sự vô lý của việc chạy trốn khỏi một tin đồn thất thiệt, và nói rằng trong bảy ngày nữa sự thật sẽ được biết đến. Nhà vua đã sử dụng gián điệp, những người này đã phát hiện ra những kẻ giết người đang cãi vã nhau sau khi uống rượu mạnh. Chúng bị bắt và đưa ra trước nhà vua, nơi chúng đã thú nhận tội ác của mình. Nhà vua đã cho gọi những kẻ ngoại đạo và buộc chúng phải rút lại những lời buộc tội chống lại Đức Phật và các tỳ-kheo của Ngài và thú nhận sự độc ác của chính chúng. Sau đó chúng bị trừng phạt vì tội giết người. Ud.iv.8; Uda.256ff.; Dhpa.iii.474f.; Snpa.ii.528f.; Ja.ii.415f.
Có nói (Ap.i.299; Uda.263) rằng xưa kia Bodhisatta là một người tìm kiếm khoái lạc tên là Munāli. Một ngày nọ ngài thấy Surabhi, một Pacceka Buddha, đang đắp y bên ngoài thành. Gần đó có một người phụ nữ đang đi ngang qua, và Munāli nói đùa: “Hãy nhìn xem, vị sa-môn này không phải là người sống phạm hạnh, mà là một kẻ phóng đãng.” Chính lời nói này của Bodhisatta đã mang lại cho Đức Phật, như một quả báo, sự ô nhục liên quan đến Sundarī.
Duṭṭhakasutta và Maṇisūkarajātaka (Ja 285) đã được thuyết giảng liên quan đến sự kiện này.
04. Sundarī 04 draft
Sundarī 04. v.l. Sūnari. A Kāliṅga princess, kinswoman of Tilokasundarī. She married Vikkamabāhu. Cv.lix.49; for the correctness of the name see Cv.Trs.i.213, n.2.
Sundarī 04. v.l. Sūnari. Một công chúa Kāliṅga, họ hàng của Tilokasundarī. Cô đã kết hôn với Vikkamabāhu. Cv.lix.49; về tính chính xác của tên xem Cv.Trs.i.213, n.2.