Sāketajātaka draft
01. Sāketajātaka 01 draft
Sāketajātaka 01. (Ja 68). Once, when the Buddha visited Sāketa, an old Brahmin met him at the gate and fell at his feet, calling him his son, and took him home to see his “mother” the Brahmin’s wife and his “brothers and sisters” the Brahmin’s family. There the Buddha and his monks were entertained to a meal, at the end of which the Buddha preached the Jarāsutta. Both the Brahmin and his wife became Sakadāgāmīs. When the Buddha returned to Añjanavana, the monks asked him what the Brahmin had meant by calling him his son. The Buddha told them how the Brahmin had been his father in five hundred successive past births, his uncle in a like number, and his grandfather in another five hundred. The Brahmin’s wife had similarly been his mother, his aunt, and his grandmother. Ja.i.308f; cf. Dhpa.iii.317f.; Snpa.ii.532f.
Sāketajātaka 01. (Ja 68). Có lần, khi Đức Phật đến thăm Sāketa, một người Bà-la-môn già đã gặp ngài tại cổng và phủ phục dưới chân ngài, gọi ngài là con trai của ông, và đưa ngài về nhà để gặp “mẹ” ngài – vợ của người Bà-la-môn – và “anh chị em” ngài – gia đình của người Bà-la-môn. Ở đó Đức Phật và các tỳ-kheo của ngài đã được thết đãi một bữa ăn, vào cuối bữa ăn Đức Phật đã thuyết giảng Jarāsutta. Cả người Bà-la-môn và vợ ông đều trở thành những vị Sakadāgāmī. Khi Đức Phật trở về Añjanavana, các tỳ-kheo hỏi ngài người Bà-la-môn có ý gì khi gọi ngài là con trai. Đức Phật nói với họ làm thế nào mà người Bà-la-môn đã từng là cha của ngài trong năm trăm kiếp quá khứ liên tiếp, là chú của ngài trong một số lượng kiếp tương tự, và là ông nội của ngài trong năm trăm kiếp khác. Vợ của người Bà-la-môn cũng tương tự đã từng là mẹ ngài, dì ngài, và bà nội ngài. Ja.i.308f; cf. Dhpa.iii.317f.; Snpa.ii.532f.
02. Sāketajātaka 02 draft
Sāketajātaka 02. (Ja 237). The story of the present is the same as in Jātaka (1) above. When the Buddha returned to the monastery he was asked how the Brahmin had recognized him. He explained how in those who have loved in previous lives, love springs afresh, like lotus in the pond. Ja.i.234f.
Sāketajātaka 02. (Ja 237). Câu chuyện hiện tại cũng giống như trong Jātaka (1) ở trên. Khi Đức Phật trở về tu viện, ngài được hỏi làm thế nào mà người Bà-la-môn đã nhận ra ngài. Ngài giải thích làm thế nào mà ở những người đã từng yêu thương nhau trong những kiếp trước, tình yêu lại nảy mầm tươi mới, giống như hoa sen trong ao. Ja.i.234f.