Cunda draft, redirect

01. Cunda 01 draft

Cunda 01. A worker in metals (kammāraputta) living in Pāvā. When Gotama Buddha reached Pāvā on his way to Kusinārā, he stayed in Cunda’s Mango grove. There Cunda visited him and invited him and the monks to a meal the next day. The meal consisted of sweet rice and cakes and sūkaramaddava. At the meal the Buddha ordered that he alone should be served with sūkaramaddava, and that what was left over should be buried in a hole. This was the Buddha’s last meal, as very soon after it he developed dysentery (DN.ii.126; Ud.viii.5). The Buddha, a little while before his death, gave special instructions to Ānanda that he should visit Cunda and reassure him by telling him that no blame at all attached to him and that he should feel no remorse, but should, on the contrary, rejoice, in that he had been able to give to the Buddha a meal which, in merit, far exceeded any other (DN.ii.135f).

The Suttanipāta Commentary (Snp­a.i.159) mentions that, at this meal, Cunda provided golden vessels for the monks’ use; some made use of them, others did not. One monk stole a vessel and put it in his bag. Cunda noticed this but said nothing. Later, in the afternoon, he visited the Buddha and questioned him as to the different kinds of samaṇas there were in the world. The Buddha preached to him the Cundasutta.

The Commentary adds (p.166; also Ud­a.399) that Cunda reached no attainment, but merely had his doubts dispelled. The Dīgha Commentary, however, says (DN­a.ii.568) that he became a Sotāpanna at the first sight of the Buddha and built for him a vihāra at the Ambavana. This latter incident, probably, took place at an earlier visit of the Buddha, for we are told (DN.iii.207) that while the Buddha was staying in Cunda’s Mango grove, he was invited by the Mallas to consecrate their new Mote-hall, Ubbhaṭaka. He accepted the invitation, preached in the hall till late at night, and then requested Sāriputta to continue, which he did by preaching the Saṅgītisutta. This was soon after the death of Nigaṇṭha Nātaputta (DN.iii.210).

The Aṅguttaranikāya (v.263ff) mentions another conversation between the Buddha and Cunda. Cunda tells the Buddha that he approves of the methods of purification (soceyyāni) laid down by the Brahmins of the west (Pacchābhūmakā). The Buddha tells him of the teaching of the Ariyans regarding the threefold defilement and purification of the body, the fourfold defilement and purification of the speech, and the threefold defilement and purification of the mind. Cunda accepts the Buddha’s explanations and declares himself his follower.

Cunda 01. Một thợ kim loại (kammāraputta) sống ở Pāvā. Khi Gotama Buddha đến Pāvā trên đường tới Kusinārā, Ngài đã lưu lại trong rừng Xoài của Cunda. Tại đó Cunda đã đến thăm Ngài và mời Ngài cùng các tỳ-kheo đến dùng bữa vào ngày hôm sau. Bữa ăn bao gồm cơm ngọt, bánh ngọt và sūkaramaddava. Trong bữa ăn, Đức Phật ra lệnh rằng chỉ một mình Ngài mới được dọn món sūkaramaddava, và những gì còn thừa lại phải được chôn vào một cái hố. Đây là bữa ăn cuối cùng của Đức Phật, vì rất nhanh sau đó Ngài bị kiết lỵ (DN.ii.126; Ud.viii.5). Đức Phật, một khoảng thời gian ngắn trước khi viên tịch, đã đưa ra những chỉ dẫn đặc biệt cho Ānanda rằng ông nên đến thăm Cunda và trấn an ông ấy bằng cách nói với ông ấy rằng hoàn toàn không có lỗi nào thuộc về ông và rằng ông không nên cảm thấy hối hận, mà ngược lại, nên hoan hỷ, vì ông đã có thể dâng cho Đức Phật một bữa ăn mà, về công đức, vượt xa bất kỳ bữa ăn nào khác (DN.ii.135f).

Suttanipāta Commentary (Snp­a.i.159) đề cập rằng, tại bữa ăn này, Cunda đã cung cấp các đồ đựng bằng vàng cho các tỳ-kheo sử dụng; một số vị đã dùng chúng, những vị khác thì không. Một tỳ-kheo đã lấy cắp một món đồ đựng và cho vào túi của mình. Cunda đã nhận thấy điều này nhưng không nói gì. Về sau, vào buổi chiều, ông đến thăm Đức Phật và hỏi Ngài về các hạng samaṇa khác nhau có trên thế giới. Đức Phật đã thuyết cho ông bài Cundasutta.

Chú giải cho biết thêm (p.166; cũng xem Ud­a.399) rằng Cunda không đạt được chứng đắc nào, mà chỉ đơn thuần được xua tan những hoài nghi của mình. Tuy nhiên, Dīgha Commentary lại nói (DN­a.ii.568) rằng ông đã trở thành một Sotāpanna ngay lần đầu tiên nhìn thấy Đức Phật và đã xây cho Ngài một vihāra tại Ambavana. Sự kiện sau này, có lẽ, đã diễn ra trong một chuyến viếng thăm trước đó của Đức Phật, vì chúng ta được biết (DN.iii.207) rằng trong khi Đức Phật đang lưu lại trong rừng Xoài của Cunda, Ngài đã được những người Malla mời đến để làm lễ khánh thành hội trường mới của họ, Ubbhaṭaka. Ngài đã chấp nhận lời mời, thuyết pháp trong hội trường cho đến khuya, và sau đó yêu cầu Sāriputta tiếp tục; vị này đã tiếp tục bằng việc thuyết giảng Saṅgītisutta. Điều này xảy ra ngay sau cái chết của Nigaṇṭha Nātaputta (DN.iii.210).

Aṅguttaranikāya (v.263ff) có đề cập đến một cuộc trò chuyện khác giữa Đức Phật và Cunda. Cunda nói với Đức Phật rằng ông chấp thuận những phương pháp thanh tịnh (soceyyāni) được đặt ra bởi các Bà-la-môn ở phương tây (Pacchābhūmakā). Đức Phật nói cho ông về giáo lý của các bậc Thánh liên quan đến ba loại nhiễm ô và thanh tịnh của thân, bốn loại nhiễm ô và thanh tịnh của khẩu, và ba loại nhiễm ô và thanh tịnh của ý. Cunda chấp nhận những lời giải thích của Đức Phật và tuyên bố mình là người đi theo Ngài.

2. Cunda draft

Cunda 02. The books appear to refer to two Theras by the name of Cunda, the better known being Mahā Cunda and the other Cūḷa Cunda. But the legends connected with them are so confused that it is not possible to differentiate clearly one from the other.

Mention is also made of a Cunda Samaṇuddesa whom, however, the Commentaries identify with Mahā Cunda (e.g. DN­a.iii.907). Mahā Cunda is, for instance, described in the Theragāthā Commentary as the younger brother of Sāriputta, under whom he joined the Saṅgha, winning Arahant-ship after arduous and strenuous effort (Thag­a.i.261; see also Dhp­a.ii.188 and AN­a.ii.674).

In the time of Vipassī Buddha he had been a potter and had given to the Buddha a bowl made of clay. The Apadāna verses quoted in the Theragāthā Commentary are, in the Apadāna itself (Ap.ii.444), ascribed to a monk named Ekapattadāyaka. They make no mention whatever of his relationship to Sāriputta. On the other hand, there are to be found elsewhere in the Apadāna (Ap.i.101f) certain verses ascribed to a Cunda Thera, which definitely state that he was the son of the Brahmin Vaṅganta, and that his mother was Sārī. But in these verses he is called Cūḷa Cunda, and mention is made of his previous birth in the time of Siddhattha Buddha, to whom he gave a bouquet of jasmine flowers. As a result he became king of the Devas seventy-seven times and was once king of men, by name Dujjaya. It is further stated that he became Arahant while yet a Sāmaṇera and that he waited upon the Buddha and his own brother and other virtuous monks. This account goes on to say that after his brother’s death, Cunda brought his relics in a bowl and presented them to the Buddha, who uttered praises of Sāriputta. This would identify Cūḷa Cunda with Cunda Samaṇuddesa who, according to the Saṁyuttanikāya (SN.v.161f), attended Sāriputta in his last illness and, after his death, brought to the Buddha at Jetavana Sāriputta’s bowl and outer robe and his relics wrapt in his water-strainer. Therefore if Buddhaghosa is correct in identifying Cunda Samaṇuddesa with Mahā Cunda, then all three are one and the same (Buddhaghosa says that the monks called him Samaṇuddesa in his youth before his upasampadā, and he never lost the name, DN­a.iii.907).

Cunda Samaṇuddesa was, for some time, the personal attendant of Gotama Buddha (Thag­a.ii.124; Ja.iv.95, etc.), and when the Buddha prepared to perform the Twin Miracle, offered to perform a miracle himself and so save the Buddha trouble and exertion (Dhp­a.iii.211). Cunda’s teacher was Ānanda, and it was to Ānanda that he first brought the news of Sāriputta’s death (SN­a.iii.178; see also the Pāsādikasutta and the Sāmagāmasutta, where Cunda brings to Ānanda and then to the Buddha the news of Nigaṇṭha Nātaputta’s death; see also the Sallekhasutta).

Mahā Cunda was evidently a disciple of great eminence, and is mentioned by the Buddha (AN.iii.299; see also MN.iii.78; Ud.i.5) in company with the Two Chief Disciples, Mahā Kassapa, Mahā Koṭṭhita, Mahā Kaccāna and other very eminent Elders.

The Piṭakas contain several discourses (AN.iii.355; v.41, 157) given to the monks by Mahā Cunda while residing at Sahajātī among the Cetis, probably after the Buddha’s death. Cunda (or Cundaka as he is called in this context) was with the Buddha in his last journey to Kusinārā, and spread a bed for him in the Mango grove by the Kakuṭṭhā River (DN.ii.134f; Ud.viii.5).

Cunda is mentioned (SN.iv.50f.; MN.iii.263f) as having accompanied Sāriputta when he went to see Channa at the Kalandakanivāpa in Rājagaha, just before Channa’s suicide. Once, when the Buddha lay ill in the Kalandakanivāpa, Cunda visited him and they talked of the bojjhaṅgas. There and then the Buddha’s sickness vanished. SN.v.81.

Cunda 02. Các sách dường như đề cập đến hai vị Thera có tên là Cunda, vị được biết đến nhiều hơn là Mahā Cunda và vị kia là Cūḷa Cunda. Nhưng những truyền thuyết gắn liền với họ lại lộn xộn đến mức không thể phân biệt rõ người này với người kia.

Cũng có nhắc đến một Cunda Samaṇuddesa mà, tuy nhiên, các Chú giải đồng nhất với Mahā Cunda (vd. DN­a.iii.907). Mahā Cunda, chẳng hạn, được mô tả trong Theragāthā Commentary là em trai của Sāriputta, dưới sự hướng dẫn của vị này ông đã gia nhập Tăng đoàn, đắc quả vị Arahant sau nỗ lực gian khổ và căng thẳng (Thag­a.i.261; xem thêm Dhp­a.ii.188 và AN­a.ii.674).

Vào thời của Vipassī Buddha, ông từng là một người thợ gốm và đã dâng cho Đức Phật một cái bát làm bằng đất sét. Những câu kệ Apadāna được trích dẫn trong Theragāthā Commentary thì, trong chính Apadāna (Ap.ii.444), lại được cho là của một tỳ-kheo tên là Ekapattadāyaka. Chúng hoàn toàn không đề cập đến mối quan hệ của ông với Sāriputta. Mặt khác, có thể tìm thấy ở những nơi khác trong Apadāna (Ap.i.101f) một số câu kệ được gán cho một vị Cunda Thera, trong đó nêu rõ ràng rằng ông là con trai của Bà-la-môn Vaṅganta, và mẹ ông là Sārī. Nhưng trong những câu kệ này ông được gọi là Cūḷa Cunda, và có sự đề cập đến tiền kiếp của ông vào thời Siddhattha Buddha, người mà ông đã dâng cúng một bó hoa nhài. Kết quả là ông trở thành vua của chư thiên bảy mươi bảy lần và đã từng một lần là vua loài người, tên là Dujjaya. Người ta nói thêm rằng ông trở thành Arahant khi vẫn còn là một Sāmaṇera và rằng ông đã phục vụ Đức Phật, anh trai ruột của mình và các tỳ-kheo đức hạnh khác. Lời kể này tiếp tục nói rằng sau cái chết của anh trai mình, Cunda đã mang xá lợi của vị đó trong một cái bát và dâng chúng cho Đức Phật, người đã thốt ra những lời tán thán Sāriputta. Điều này sẽ đồng nhất Cūḷa Cunda với Cunda Samaṇuddesa, người mà, theo Saṁyuttanikāya (SN.v.161f), đã chăm sóc Sāriputta trong cơn bệnh cuối cùng của ông và, sau cái chết của ông ấy, đã mang cái bát, y áo ngoài và xá lợi được bọc trong đồ lọc nước của Sāriputta đến cho Đức Phật tại Jetavana. Do đó, nếu Buddhaghosa đúng trong việc đồng nhất Cunda Samaṇuddesa với Mahā Cunda, thì cả ba đều là một và giống nhau (Buddhaghosa nói rằng các tỳ-kheo gọi ông là Samaṇuddesa vào thời trẻ của ông trước lễ upasampadā của ông, và ông không bao giờ đánh mất cái tên đó, DN­a.iii.907).

Cunda Samaṇuddesa đã từng, trong một khoảng thời gian, là người thị giả cá nhân của Gotama Buddha (Thag­a.ii.124; Ja.iv.95, v.v.), và khi Đức Phật chuẩn bị thực hiện Song thông, ông đã đề nghị chính mình thực hiện một phép lạ để tránh cho Đức Phật khỏi phiền nhọc và phải gắng sức (Dhp­a.iii.211). Thầy của Cunda là Ānanda, và chính Ānanda là người đầu tiên được ông báo tin Sāriputta qua đời (SN­a.iii.178; xem thêm PāsādikasuttaSāmagāmasutta, nơi Cunda mang tin tức về cái chết của Nigaṇṭha Nātaputta đến cho Ānanda rồi sau đó là Đức Phật; xem thêm Sallekhasutta).

Mahā Cunda rõ ràng là một đệ tử rất lỗi lạc, và được Đức Phật đề cập (AN.iii.299; xem thêm MN.iii.78; Ud.i.5) cùng với Hai vị Đại Đệ tử, Mahā Kassapa, Mahā Koṭṭhita, Mahā Kaccāna và các Trưởng lão rất lỗi lạc khác.

Các Piṭaka có chứa một vài bài thuyết pháp (AN.iii.355; v.41, 157) được Mahā Cunda thuyết cho các tỳ-kheo trong khi đang lưu trú tại Sahajātī giữa những người Ceti, có lẽ là sau khi Đức Phật viên tịch. Cunda (hay Cundaka như ông được gọi trong bối cảnh này) đã ở cùng Đức Phật trong chuyến hành trình cuối cùng của Ngài đến Kusinārā, và đã trải một chỗ nằm cho Ngài tại rừng Xoài bên bờ sông Kakuṭṭhā (DN.ii.134f; Ud.viii.5).

Cunda được đề cập (SN.iv.50f.; MN.iii.263f) như là người đã đi cùng Sāriputta khi ông đến gặp Channa tại KalandakanivāpaRājagaha, ngay trước khi Channa tự sát. Có lần, khi Đức Phật nằm bệnh tại Kalandakanivāpa, Cunda đã đến thăm Ngài và họ đã nói chuyện về các chi giác ngộ (bojjhaṅga). Ngay lúc ấy, tại nơi ấy, cơn bệnh của Đức Phật biến mất. SN.v.81.

03. Cunda 03 redirect

Redirect target: Cunda Sūkarika

Cunda 03. See Cundasūkarika.

Chưa dịch.

04. Cunda 04 draft

Cunda 04. A rājakumāra, brother of Cundī and, therefore, son of Bimbisāra. (AN.iii.35)

Cunda 04. Một rājakumāra (vương tử), anh hoặc em trai của Cundī và, do đó, là con trai của Bimbisāra. (AN.iii.35)