Keniya draft

01. Keniya 01 draft

Keniya 01. A Jaṭila. He lived in Āpaṇa, and when the Buddha once stayed there with 1,250 monks, Keniya visited the Buddha, bringing various kinds of drinks, which he gave to him and to the monks. The following day he invited the whole company to a meal and showed great hospitality. It was as a result of the drinks offered by Keniya that the Buddha laid down a rule as to which drinks were permissible for monks and which were not (Vin.i.245f).

According to the Suttanipāta (p.104; MN.ii.146f; see also Thag­a.ii.47), it was owing to the elaborate preparations made by Keniya for the meal to the Buddha and the Saṅgha that the Brahmin Sela, friend and counsellor of Keniya, came to discover the Buddha’s presence in Āpaṇa. The result was the conversion and ordination of Sela and his three hundred pupils.

Buddhaghosa says (Snp­a.ii.440; MN­a.ii.779; Ap.i.318) that Keniya was a Mahā Sāla Brahmin, and that he became a Jaṭila with the object of protecting his wealth. He bought some land from the king and built his hermitage there, and became the protector (nissaya) of one thousand families. In his hermitage was a palm tree which yielded a golden nut each day. Keniya was a yellow-robed ascetic by day; by night he enjoyed the pleasures of the senses. On his first visit to the Buddha he took five hundred pingo-loads of badarapāna (Snp­a.ii.446) (Jujube juice).

Keniya is mentioned (e.g., DN­a.i.270; see also Dhp­a.i.323; Ud­a.241) as an example of one of the eight classes of ascetics – those who maintain wife and children (saputtabhariya).

Keniya 01. Một vị Jaṭila. Ông sống ở Āpaṇa, và có một lần khi Đức Phật đến đó lưu lại cùng với 1.250 tỳ-kheo, Keniya đã đến thăm Đức Phật, mang theo nhiều loại thức uống khác nhau dâng lên ngài và các tỳ-kheo. Ngày hôm sau, ông đã mời toàn thể hội chúng đến dùng bữa và thể hiện sự hiếu khách vô cùng nhiệt tình. Chính nhờ những thức uống do Keniya dâng cúng mà Đức Phật đã đặt ra một quy định về những loại thức uống nào được phép dùng đối với các tỳ-kheo và loại nào thì không (Vin.i.245f).

Theo Suttanipāta (p.104; MN.ii.146f; xem thêm Thag­a.ii.47), chính nhờ sự chuẩn bị chu đáo của Keniya cho bữa ăn dâng lên Đức Phật và Saṅgha mà người Bà-la-môn Sela, người bạn và cũng là quân sư của Keniya, đã phát hiện ra sự hiện diện của Đức Phật tại Āpaṇa. Kết quả là sự cải đạo và xuất gia của Sela cùng ba trăm học trò của ông.

Buddhaghosa kể lại (Snp­a.ii.440; MN­a.ii.779; Ap.i.318) rằng Keniya từng là một người Bà-la-môn Mahā Sāla, và ông trở thành một Jaṭila với mục đích bảo vệ tài sản của mình. Ông đã mua một mảnh đất từ nhà vua và dựng am thất ở đó, rồi trở thành người bảo trợ (nissaya) cho một ngàn gia đình. Trong am thất của ông có một cây cọ mỗi ngày cho ra một quả bằng vàng. Ban ngày Keniya là một đạo sĩ khoác áo y vàng; nhưng ban đêm ông vẫn hưởng thụ những lạc thú giác quan. Lần đầu tiên đến thăm Đức Phật, ông đã mang theo năm trăm gánh badarapāna (nước ép táo ta) (Snp­a.ii.446).

Keniya được nhắc đến (ví dụ, DN­a.i.270; xem thêm Dhp­a.i.323; Ud­a.241) như một ví dụ về một trong tám hạng đạo sĩ khổ hạnh – những người vẫn nuôi vợ con (saputtabhariya).

02. Keniya 02 draft

Keniya 02. In the Apadāna (ii.469, v.16) Mahā Kappina is mentioned as having belonged to the Keniyajāti. Perhaps this is a wrong reading; the corresponding verse in Thag­a.i.510 gives Koḷiya.

Keniya 02. Trong Apadāna (ii.469, v.16), Mahā Kappina được nhắc đến như là thuộc về dòng dõi Keniyajāti. Có lẽ đây là một cách đọc sai; câu thơ tương ứng trong Thag­a.i.510 ghi là Koḷiya.