Aṅgulimāla draft
Aṅgulimāla (Aṅgulimālaka). A robber who was converted by the Buddha in the twentieth year of his ministry, and who, later, became an Arahant. His story appears both in the Majjhima Commentary, 743ff., and in the Theragātha Commentary, ii.57ff. The two accounts differ in certain details; I have summarised the two versions.
He was the son of the Brahmin Bhaggava, chaplain to the king of Kosala, his mother being Mantāṇī. He was born under the thieves’ constellation, and on the night of his birth all the armour in the town shone, including that belonging to the king. Because this omen did no harm to anyone the babe was named Ahiṁsaka. The Theragātha Commentary says he was first called Hiṁsaka and then Ahiṁsaka. See also Brethren, 323, n.3.
At Takkasilā he became a favourite at the teacher’s house, but his jealous fellow-students poisoned his teacher’s mind, and the latter, bent on his destruction, asked as his honorarium a thousand human right-hand fingers. Thereupon Ahiṁsaka waylaid travellers in the Jālinī forest in Kosala and killed them, taking a finger from each. The finger-bones thus obtained he made into a garland to hang round his neck, hence the name Aṅgulimāla.
As a result of his deeds whole villages were deserted, and the king ordered a detachment of men to seize the bandit, whose name nobody knew. But Aṅgulimāla’s mother, guessing the truth, started off to warn him. By now he lacked but one finger to complete his thousand, and seeing his mother coming he determined to kill her. But the Buddha, seeing his upanissaya (potential), went himself to the wood, travelling thirty yojanas, (DNa.i.240; Ja.iv.180) and intercepted Aṅgulimāla on his way to slay his mother. Aṅgulimāla was converted by the Buddha’s power and received the “ehi bhikkhu” pabbajjā (Thag.868-70) while the populace were yelling at the king’s palace for the robber’s life. Later, the Buddha presented him before King Pasenadi when the latter came to Jetavana, and Pasenadi, filled with wonder, offered to provide the monk with all requisites. Aṅgulimāla, however, had taken on the dhutaṅgas and refused the king’s offer.
When he entered Sāvatthī for alms, he was attacked by the mob, but on the admonition of the Buddha, endured their wrath as penance for his former misdeeds.
According to the Dhammapada Commentary (Dhp-a.iii.169) he appears to have died soon after he joined the Saṅgha.
There is a story of how he eased a woman’s labour pains by an act of truth. The words he used in this saccakiriyā (yato ahaṁ sabbaññutabuddhassa ariyassa ariyāya jātiyā jāto) have come to be regarded as a paritta to ward off all dangers of childbirth and constitute the Aṅgulimālaparitta. The water that washed the stone on which he sat in the woman’s house came to be regarded as a panacea (MN.ii.103-4; MNa.747f).
In the Aṅgulimālasutta he is addressed by Pasenādi as Gagga Mantānīputta, his father being a Gagga. The story is evidently a popular one and occurs also in the Avadānaśataka (No. 27).
At the Kosala king’s Asadisadāna, an untamed elephant, none other being available, was used to bear the parasol over Aṅgulimāla. The elephant remained perfectly still – such was Aṅgulimāla’s power (Dhpa.iii.185; also DNa.ii.654).
The conversion of Aṅgulimāla is often referred to as a most compassionate and wonderful act of the Buddha’s, e.g. in the Sutasomajātaka, (Ja.v.456f.; see also Ja.iv.180; Snp-a.ii.440; Dhpa.i.124) which was preached concerning him. The story of Aṅgulimāla is quoted as that of a man in whose case a beneficent kamma arose and destroyed former evil kamma (ANa.i.369).
It was on his account that the rule not to ordain a captured robber was enacted (Vin.i.74).
For his identification with Kalmāsapāda see JPTS, 1909, pp. 240ff.
Aṅgulimāla (Aṅgulimālaka). Một tên cướp được Đức Phật giáo hóa vào năm thứ hai mươi trong thời hoằng pháp của Ngài, và về sau trở thành một Arahant. Câu chuyện của ông xuất hiện trong cả Majjhima Commentary, 743ff., lẫn Chú giải Theragātha, ii.57ff. Hai bản kể khác nhau ở một số chi tiết; tôi đã tóm lược hai phiên bản.
Ông là con trai của Bà-la-môn Bhaggava, tế sư của vua Kosala, mẹ ông là Mantāṇī. Ông sinh dưới chòm sao của kẻ trộm, và vào đêm ông chào đời, tất cả áo giáp trong thành đều sáng lên, kể cả áo giáp thuộc về nhà vua. Vì điềm này không gây hại cho ai nên đứa bé được đặt tên là Ahiṁsaka. Chú giải Theragātha nói rằng ban đầu ông được gọi là Hiṁsaka, rồi sau đó là Ahiṁsaka. Xem thêm Brethren, 323, n.3.
Tại Takkasilā, ông trở thành người được yêu mến trong nhà thầy, nhưng các bạn học ghen tị đã đầu độc tâm trí vị thầy, và vị này, quyết hủy hoại ông, đã đòi thù lao dạy học là một nghìn ngón tay phải của người. Do đó Ahiṁsaka phục kích những người đi đường trong rừng Jālinī ở Kosala và giết họ, lấy từ mỗi người một ngón tay. Những xương ngón tay thu được như vậy, ông kết thành vòng hoa để đeo quanh cổ, do đó có tên Aṅgulimāla.
Do hậu quả các việc làm của ông, toàn bộ các làng bị bỏ hoang, và nhà vua ra lệnh cho một toán người bắt tên cướp, người mà không ai biết tên. Nhưng mẹ của Aṅgulimāla, đoán ra sự thật, lên đường để cảnh báo ông. Lúc ấy ông chỉ còn thiếu một ngón tay để đủ một nghìn, và khi thấy mẹ mình đi đến, ông quyết định giết bà. Nhưng Đức Phật, thấy upanissaya (căn duyên) của ông, đích thân đi vào rừng, vượt ba mươi yojanas, (DNa.i.240; Ja.iv.180) và chặn Aṅgulimāla trên đường ông đi giết mẹ. Aṅgulimāla được giáo hóa nhờ thần lực của Đức Phật và nhận pabbajjā “ehi bhikkhu” (Thag.868-70) trong khi dân chúng đang gào thét tại hoàng cung đòi mạng tên cướp. Về sau, Đức Phật đưa ông ra trước vua Pasenadi khi vua đến Jetavana, và Pasenadi, đầy kinh ngạc, ngỏ ý cung cấp cho vị tỳ-kheo mọi vật dụng cần thiết. Tuy nhiên, Aṅgulimāla đã thọ trì các dhutaṅgas và từ chối lời đề nghị của nhà vua.
Khi ông vào Sāvatthī khất thực, ông bị đám đông tấn công, nhưng theo lời khuyên răn của Đức Phật, ông chịu đựng cơn thịnh nộ của họ như sự đền trả cho các ác nghiệp trước kia của mình.
Theo Dhammapada Commentary (Dhp-a.iii.169), dường như ông đã qua đời không lâu sau khi gia nhập Tăng đoàn.
Có một câu chuyện về việc ông làm dịu cơn đau chuyển dạ của một người phụ nữ bằng một hành động chân thật. Những lời ông dùng trong saccakiriyā này (yato ahaṁ sabbaññutabuddhassa ariyassa ariyāya jātiyā jāto) đã được xem là một paritta để xua trừ mọi nguy hiểm của việc sinh nở và tạo thành Aṅgulimālaparitta. Nước rửa hòn đá mà ông ngồi trong nhà người phụ nữ ấy được xem là thuốc chữa bách bệnh (MN.ii.103-4; MNa.747f).
Trong Aṅgulimālasutta, ông được Pasenādi gọi là Gagga Mantānīputta, vì cha ông là một Gagga. Câu chuyện rõ ràng là một chuyện dân gian phổ biến và cũng xuất hiện trong Avadānaśataka (No. 27).
Trong lễ Asadisadāna của vua Kosala, một con voi chưa thuần, vì không có con nào khác, được dùng để mang lọng che trên Aṅgulimāla. Con voi đứng hoàn toàn bất động - quyền năng của Aṅgulimāla là như vậy (Dhpa.iii.185; cũng DNa.ii.654).
Sự giáo hóa Aṅgulimāla thường được nhắc đến như một hành động vô cùng từ bi và kỳ diệu của Đức Phật, ví dụ trong Sutasomajātaka, (Ja.v.456f.; xem thêm Ja.iv.180; Snp-a.ii.440; Dhpa.i.124) được thuyết liên quan đến ông. Câu chuyện về Aṅgulimāla được trích dẫn như trường hợp của một người mà trong đó một kamma thiện đã khởi lên và tiêu diệt kamma ác trước kia (ANa.i.369).
Chính vì ông mà điều luật không truyền giới cho một tên cướp bị bắt đã được ban hành (Vin.i.74).
Về việc đồng nhất ông với Kalmāsapāda, xem JPTS, 1909, pp. 240ff.