Mahā Sīhanādasutta draft

Mahā Sīhanādasutta. Preached at the Mahā Vana in Vesālī. Sāriputta tells the Buddha that Sunakkhatta, who had recently left the Saṅgha, went about saying that there was nothing marvellous about the Buddha’s knowledge and insight and that his teachings did not lead to the end of suffering. The Buddha says that Sunakkhatta is a man of wrath and folly and incapable of appreciating the good either of the Tathāgata or of his teachings. He then issues his challenge to the effect that no one can deny to the Tathāgata the possession of ten powers (balā) – which are enumerated – and the four confidences (vesārajjā). The Tathāgata can attend any of the eight assemblies without fear; he knows the various classifications of beings, the birth of beings, the way to Nibbāna; he can read the minds of men and the five destinies which await different beings. He has lived the fourfold higher life being foremost in his practice of asceticism, in loathsomeness, in scrupulosity, in solitude. No one has surpassed him in the practice of these things. He has discovered, by experimentation, the futility of the claims of those who maintain that purity comes by way of food, or offering, or ritual. Though eighty years old and his body broken down, yet his powers of mind are at their prime; even if he must be carried on a litter, yet will his mind retain its powers (MN.i.68-83).

Nāgasamāla, who is near by, asks the Buddha for a title for the discourse, and the Buddha gives it the name of Lomahaṁsapariyāya. cp. Lomahaṁsajātaka.

Mahā Sīhanādasutta. Được thuyết giảng tại Mahā VanaVesālī. Sāriputta nói với Đức Phật rằng Sunakkhatta, người vừa mới rời khỏi Tăng đoàn, đã đi rêu rao rằng không có gì kỳ diệu về kiến thức và tuệ giác của Đức Phật và rằng những giáo lý của Ngài không dẫn đến sự tận diệt của khổ đau. Đức Phật nói rằng Sunakkhatta là một kẻ phẫn nộ và ngu muội và không có khả năng đánh giá cao sự tốt đẹp của Tathāgata hoặc của những giáo lý của Ngài. Sau đó Ngài đưa ra lời thách thức của mình với hàm ý rằng không một ai có thể phủ nhận việc Tathāgata sở hữu mười sức mạnh (balā) – được liệt kê ra – và bốn sự tự tin (vesārajjā). Tathāgata có thể tham dự bất kỳ hội chúng nào trong số tám hội chúng mà không hề sợ hãi; Ngài biết các sự phân loại khác nhau của chúng sinh, sự tái sinh của chúng sinh, con đường dẫn đến Nibbāna; Ngài có thể đọc được tâm trí của con người và năm cõi giới đang chờ đợi các chúng sinh khác nhau. Ngài đã sống đời sống phạm hạnh gồm bốn phần, đứng đầu trong việc thực hành khổ hạnh, trong sự gớm ghiếc, trong sự thận trọng, trong sự viễn ly. Không một ai đã vượt qua Ngài trong việc thực hành những điều này. Bằng sự trải nghiệm, Ngài đã khám phá ra sự vô ích trong những lời tuyên bố của những kẻ khẳng định rằng sự thanh tịnh đến từ thức ăn, hoặc lễ vật cúng tế, hoặc nghi lễ. Dù đã tám mươi tuổi và thân thể đã rệu rã, nhưng những sức mạnh tâm trí của Ngài vẫn ở thời kỳ sung mãn nhất; ngay cả khi Ngài phải được khiêng trên một chiếc cáng, thì tâm trí của Ngài vẫn sẽ duy trì những sức mạnh của nó (MN.i.68-83).

Nāgasamāla, người đang ở gần đó, hỏi Đức Phật về tựa đề cho bài thuyết giảng, và Đức Phật đặt tên cho nó là Lomahaṁsapariyāya. đối chiếu Lomahaṁsajātaka.