Abhibhūta draft

Abhibhūta. A Thera. He was born in the Rājā’s family in Veṭṭha (v.l. Veṭṭhipura) and succeeded to his father’s estate. When the Buddha came to the city during a tour, Abhibhūta heard him and invited him for a meal; he later entered the Saṅgha and became an Arahant.

Three verses ascribed to Abhibhūta occur in the Theragāthā, uttered, it is said, when his kinsmen and retainers came to him lamenting that he had left them without a leader (Thag.vv.255-7; Thag­a.i.372f). The second of these verses is elsewhere (SN.i.156) attributed to Abhibhū, chief disciple of Sikhī Buddha. But in the Milindapañha (245), Nāgasena ascribes the second verse to the Buddha, and in the Mahā Parinibbānasutta (DN.ii.121) the third verse also is ascribed to him. The second verse is also assigned to the Buddha in the Divyāvadāna (p.200), but elsewhere in the same books (p.569) it is said to have been uttered by Devas.

In a former birth Abhibhūta had been a householder in the time of Vessabhū Buddha and became a believer in the Faith, to which he was led by his friends. When the Buddha died, the populace gathered together to obtain relics, but Abhibhūta, having quenched the pyre with fragrant water, was first able to take those which he desired (Thag­a.i.372).

He is evidently to be identified with Citakanibbāpaka Thera of the Apadāna (ii.408).

Abhibhūta. Một Thera. Ông sinh trong gia đình Rājā ở Veṭṭha (v.l. Veṭṭhipura) và thừa kế gia sản của cha. Khi Đức Phật đến thành phố trong một chuyến du hành, Abhibhūta nghe Ngài thuyết và thỉnh Ngài dùng bữa; về sau ông gia nhập Saṅgha và trở thành một Arahant.

Ba bài kệ được gán cho Abhibhūta xuất hiện trong Theragāthā, được nói là đã thốt ra khi thân quyến và tùy tùng của ông đến với ông, than khóc rằng ông đã bỏ họ lại không người lãnh đạo (Thag.vv.255-7; Thag­a.i.372f). Bài thứ hai trong số các bài kệ này ở nơi khác (SN.i.156) được gán cho Abhibhū, thượng thủ đệ tử của Sikhī Buddha. Nhưng trong Milindapañha (245), Nāgasena gán bài kệ thứ hai cho Đức Phật, và trong Mahā Parinibbānasutta (DN.ii.121), bài kệ thứ ba cũng được gán cho Ngài. Bài kệ thứ hai cũng được quy cho Đức Phật trong Divyāvadāna (p.200), nhưng ở nơi khác trong cùng các sách ấy (p.569), nó được nói là do chư thiên thốt ra.

Trong một đời trước, Abhibhūta là một gia chủ vào thời Vessabhū Buddha và trở thành người tin vào Đạo, nhờ bạn bè dẫn dắt. Khi Đức Phật qua đời, dân chúng tụ tập để lấy xá-lợi, nhưng Abhibhūta, sau khi dập tắt giàn hỏa bằng nước thơm, là người đầu tiên có thể lấy những xá-lợi mình mong muốn (Thag­a.i.372).

Hiển nhiên ông được đồng nhất với Citakanibbāpaka Thera trong Apadāna (ii.408).