Pukkusa draft

01. Pukkusa 01 draft

Pukkusa 01. A counsellor of Maddava, king of Benares. For details see the Dasaṇṇakajātaka (Ja 401). Pukkusa is identified with Sāriputta. Ja.iii.341.

Pukkusa 01. Một vị quân sư của Maddava, vua nước Benares. Để biết chi tiết, xem Dasaṇṇakajātaka (Ja 401). Pukkusa được đồng nhất với Sāriputta. Ja.iii.341.

02. Pukkusa 02 draft

Pukkusa 02. One of the four ministers of Vedeha, king of Mithilā. He joined with his three companions in a conspiracy against Mahosadha, stealing a golden necklace from the king’s palace in order to try and implicate Mahosadha. The details are given in the Mahā Ummaggajātaka (Ja 546, Ja.vi.330ff). On Pukkusa’s thigh was a leprous spot, which he hid from the king because the king loved to lay his head on Pukkusa’s lap. Only his younger brother knew of this secret; but it was discovered later by Mahosadha, and Pukkusa was sent to prison. Pukkusa is identified with Poṭṭhāpāda. Ja.vi.478.

Pukkusa 02. Một trong bốn vị quan đại thần của Vedeha, vua nước Mithilā. Ông đã cùng ba người bạn của mình tham gia vào một âm mưu chống lại Mahosadha, đánh cắp một sợi dây chuyền vàng từ cung điện của nhà vua nhằm đổ tội cho Mahosadha. Các chi tiết được nêu trong Mahā Ummaggajātaka (Ja 546, Ja.vi.330ff). Trên đùi của Pukkusa có một vết cùi hủi, vết cùi hủi này ông đã giấu kín với nhà vua bởi vì nhà vua rất thích gối đầu lên đùi của Pukkusa. Chỉ có người em trai của ông mới biết được bí mật này; nhưng sau đó nó đã bị Mahosadha phát hiện ra, và Pukkusa đã bị tống vào ngục. Pukkusa được đồng nhất với Poṭṭhāpāda. Ja.vi.478.

03. Pukkusa 03 draft

Pukkusa 03. A Mallarājaputta. He was a disciple of Ālāra Kālāma, and one day, while on his way from Kusinārā to Pāvā, he saw the Buddha seated under a tree by the roadside and stayed to talk to him. He mentioned that once five hundred carts had passed by where Āḷāra sat, and yet so deep was he in meditation that he had failed to notice them. The Buddha told him how, when he himself was in Ātumā in the Bhusāgāra, there was a great thunderstorm which killed two peasants and four oxen, but that he had heard and seen nothing, so deep was his concentration. Pukkusa was greatly impressed by this statement, and, having declared himself a follower of the Buddha, he gave to the Buddha two robes of cloth of gold, one of which, at the Buddha’s suggestion, he handed to Ānanda. When Pukkusa had left, Ānanda draped one robe over the Buddha, and was greatly astonished at its pale appearance in comparison with the deep gold of the Buddha’s body (DN.ii.130ff).

Buddhaghosa says (DN­a.ii.569) that Pukkusa was a merchant, and was the owner of the five hundred carts which had crossed the Kakkuṭṭhā (q.v.) shortly before the incident above mentioned.

Pukkusa 03. Một vương tử tộc Malla (Mallarājaputta). Ông là một đệ tử của Ālāra Kālāma, và một ngày nọ, khi đang trên đường từ Kusinārā đến Pāvā, ông đã nhìn thấy Đức Phật đang ngồi dưới một gốc cây bên đường và đã dừng lại để thưa chuyện với Ngài. Ông đề cập rằng có lần năm trăm cỗ xe đã đi ngang qua nơi Āḷāra đang ngồi, nhưng ông vẫn chìm sâu trong thiền định đến mức không hề hay biết về chúng. Đức Phật đã kể cho ông nghe việc, khi chính Ngài đang ở Ātumā trong Bhusāgāra, đã có một trận sấm sét dữ dội đánh chết hai người nông dân và bốn con bò đực, nhưng Ngài chẳng nghe thấy hay nhìn thấy gì, bởi sự định tâm của Ngài rất sâu sắc. Pukkusa vô cùng ấn tượng trước lời nói này, và, sau khi tuyên bố trở thành tín đồ của Đức Phật, ông đã dâng lên Đức Phật hai tấm y bằng vải dát vàng, theo sự gợi ý của Đức Phật, ông đã trao một tấm cho Ānanda. Khi Pukkusa rời đi, Ānanda đã khoác một tấm y lên người Đức Phật, và ông vô cùng kinh ngạc trước vẻ ngoài nhợt nhạt của nó so với màu vàng kim sâu thẳm trên cơ thể của Đức Phật (DN.ii.130ff).

Buddhaghosa nói (DN­a.ii.569) rằng Pukkusa là một thương gia, và là chủ nhân của năm trăm cỗ xe đã băng qua Kakkuṭṭhā (q.v.) ngay trước khi sự kiện được đề cập ở trên xảy ra.

04. Pukkusa 04 draft

Pukkusa 04. The name of a caste, classified among the despised castes (e.g., AN.ii.85; MN.ii.152). The Commentary explains (e.g., AN­a.ii.523) them as “those who sweep up flowers which are offered at shrines and are not removed by the devotees who have given them.” The word Pukkusa was evidently not despised as a personal name because, in the case of Pukkusa (3), for instance, the person bearing the name was a Khattiya.

Pukkusa 04. Tên của một giai cấp, được phân loại trong số các giai cấp bị khinh miệt (ví dụ, AN.ii.85; MN.ii.152). Chú giải giải thích (ví dụ, AN­a.ii.523) họ là “những người quét dọn những bông hoa được cúng dường tại các đền tháp và không được dọn dẹp bởi những tín đồ đã dâng cúng chúng.” Từ Pukkusa rõ ràng không bị khinh miệt với tư cách là một tên cá nhân bởi vì, trong trường hợp của Pukkusa (3), chẳng hạn, người mang tên này là một Khattiya.