Nerañjarā draft

01. Nerañjarā 01 draft

Nerañjarā 01. A river. After the Awakening, the Buddha lived under the Ajapāla Nigrodha (q.v.) at Uruvelā, on the banks of this river. There Māra tempted him, and, later, Brahma persuaded him to preach the Dhamma. Vin.i.1ff.; Snp.vs.425ff.; cp. Mvu.ii.238; Lal.327 (261); SN.i.103f; 122, 136ff.; v.167, 185, 232; Ud.i.1-4; ii.1; iii.10; AN.ii.20f; DN.ii.267.

The Commentaries say that when the Buddha, having realized the futility of austerities, left the Pañcavaggiyas, he retired to Uruvelā, on the banks of the Nerañjarā, and there, just before the Awakening, Sujātā gave him a meal of milk-rice, taking him to be a god (e.g., Ja.i.68ff.; Dhp­a.i.71; Bv­a.238). Before eating the food, he bathed in the ford called Suppatiṭṭha. Under the bed of the river lay the abode of the Nāga king, Kāḷa. There was a sāla grove on the banks, where the Buddha spent the afternoon previous to the night of the Awakening.

Three explanations are given of the name: (1) Its waters are pleasant (nelaṁ jalaṁ assā ti nelañjalā, the r being substituted for the l); (2) it has blue water (nīla jalāyā ti vattabbe Nerañjarāyā ti vuttaṁ); (3) it is just simply the name of the river. Ud­a.26f.

Nadī Kassapa’s hermitage was on the bank of the Nerañjarā (Thag­a.i.45).

Nerañjarā is identified with the modern Nīlājanā, with its source in Hazaribagh, which, together with the Mohanā, unites to form the river Phalgu. CAGL 524.

Một con sông. Sau sự Giác Ngộ (Awakening), Đức Phật đã sống dưới gốc cây Ajapāla Nigrodha (q.v.) tại Uruvelā, trên bờ con sông này. Tại đó Māra đã cám dỗ Ngài, và, về sau, Phạm thiên (Brahma) đã thỉnh cầu Ngài thuyết Pháp. Vin.i.1ff.; Snp.vs.425ff.; cp. Mvu.ii.238; Lal.327 (261); SN.i.103f; 122, 136ff.; v.167, 185, 232; Ud.i.1-4; ii.1; iii.10; AN.ii.20f; DN.ii.267.

Các Bản chú giải nói rằng khi Đức Phật, sau khi nhận ra sự vô ích của các khổ hạnh, đã rời bỏ các Pañcavaggiya, Ngài lui về Uruvelā, trên bờ sông Nerañjarā, và tại đó, ngay trước sự Giác Ngộ, Sujātā đã dâng cho Ngài một bữa ăn gồm cơm sữa, vì nhầm Ngài là một vị thần (ví dụ, Ja.i.68ff.; Dhp­a.i.71; Bv­a.238). Trước khi dùng bữa, Ngài đã tắm ở bến cạn có tên là Suppatiṭṭha. Dưới lòng sông là nơi ở của vua Nāga, Kāḷa. Có một lùm cây sāla trên bờ sông, nơi Đức Phật đã trải qua buổi chiều trước đêm Giác Ngộ.

Có ba lời giải thích được đưa ra cho cái tên này: (1) Nước của nó rất dễ chịu (nelaṁ jalaṁ assā ti nelañjalā, chữ r được thay cho chữ l); (2) nó có nước màu xanh lam (nīla jalāyā ti vattabbe Nerañjarāyā ti vuttaṁ); (3) nó chỉ đơn giản là tên của con sông. Ud­a.26f.

Am thất của Nadī Kassapa nằm trên bờ sông Nerañjarā (Thag­a.i.45).

Nerañjarā được xác định là con sông Nīlājanā hiện đại, với nguồn của nó ở Hazaribagh, con sông này, cùng với con sông Mohanā, hợp lại tạo thành sông Phalgu. CAGL 524.

02. Nerañjarā 02 draft

Nerañjarā 02. A channel that branched northwards from the Puṇṇavaḍḍhana tank. Cv.lxxix.49.

Một con kênh rẽ nhánh về phía bắc từ hồ chứa nước Puṇṇavaḍḍhana. Cv.lxxix.49.