Kuṭivihārī Thera draft

01. Kuṭivihārī Thera 01 draft

Kuṭivihārī Thera 01. Kuṭivihāriya Thera. An Arahant. He was the son of a nobleman in the Vajjī country, and having heard the Buddha preach the Ratanasutta he left the world. One day, while striving after insight, he was caught in the rain and sought shelter in a woodman’s hut. As soon as he sat down there on a mat he became an Arahant. The Buddha, having heard by virtue of his divine ear the conversation between the monk and the watchman, uttered verses of approbation. The monk was so-called because he obtained insight in a hut.

In the past he had given cool water to Padumuttara Buddha (Thag.v.56; Thag­a.i.129f).

He is probably identical with Udakapūjaka Thera of the Apadāna. Ap.i.142f.

Kuṭivihāriya Thera. Một Arahant. Ngài là con trai của một nhà quý tộc ở quốc gia Vajjī, và sau khi nghe Đức Phật thuyết giảng bài kinh Ratanasutta ngài đã từ bỏ thế gian. Một ngày nọ, trong khi đang nỗ lực đạt được tuệ quán, ngài bị mắc mưa và tìm nơi trú ẩn trong túp lều của một người tiều phu. Ngay khi ngài ngồi xuống đó trên một chiếc chiếu ngài đã trở thành một Arahant. Đức Phật, sau khi nghe thấy cuộc trò chuyện giữa vị tỳ-kheo và người gác rừng nhờ khả năng thiên nhĩ thông của ngài, đã thốt ra những vần thơ tán thán. Vị tỳ-kheo được gọi như vậy vì ngài đã đạt được tuệ quán trong một túp lều.

Trong quá khứ ngài đã dâng cúng nước mát cho Padumuttara Buddha (Thag.v.56; Thag­a.i.129f).

Ngài có lẽ đồng nhất với Udakapūjaka Thera của Apadāna. Ap.i.142f.

02. Kuṭivihārī Thera 02 draft

Kuṭivihārī Thera 02. An Arahant. His story is similar to the above. He pursued his meditations in a very old hut and had thoughts of building another; but a spirit, seeking his welfare, pointed out to him in words which, though simple, carried a profound meaning, that a new hut would mean new pain. Thus urged on, Kuṭivihāri became an Arahant.

In the past he gave a fan of split reeds to Padumuttara Buddha (Thag.v.57; Thag­a.i.130f). He is probably identical with Naḷamāliya Thera of the Apadāna. Ap.i.143f.

Một Arahant. Câu chuyện của ngài cũng tương tự như ở trên. Ngài đã theo đuổi những buổi thiền định của mình trong một túp lều rất cũ kỹ và có ý nghĩ xây dựng một cái khác; nhưng một vị thần, mong muốn lợi ích cho ngài, đã chỉ ra cho ngài bằng những từ ngữ, mặc dù đơn giản, nhưng mang ý nghĩa sâu sắc, rằng một túp lều mới sẽ đồng nghĩa với nỗi đau mới. Nhờ sự thúc giục đó, Kuṭivihāri đã trở thành một Arahant.

Trong quá khứ ngài đã cúng dường một chiếc quạt làm bằng cây sậy chẻ nhỏ cho Padumuttara Buddha (Thag.v.57; Thag­a.i.130f). Ngài có lẽ đồng nhất với Naḷamāliya Thera của Apadāna. Ap.i.143f.