Mahā Dāṭhika Mahā Nāga draft
Mahā Dāṭhika Mahā Nāga. Younger brother of Bhātikābhaya and king of Ceylon for twelve years (67-79 CE.). He made a courtyard of kiñcikkha stones on plaster round the Mahā Thūpa, and built the Ambatthala Thūpa, making it firm at the risk of his own life. He placed chairs for the preachers in all the vihāras of Ceylon, and laid out the grounds round Cetiyagiri, holding a great celebration called the Giribhaṇḍapūjā (q.v.).
From the Kadambanadī to Cetiyagiri he laid carpets for the comfort of pilgrims. He built the Maṇināgapabbata, the Kalanda, the Samudda, and the Cūḷānāgapabbata vihāras, and gave land for the use of monks in Pāsāṇadīpaka and Maṇḍavāpi vihāras in gratitude for favours shown him by novices of these monasteries. He had two sons, Āmaṇḍagāmaṇī Abhaya and Kaṇirajānutissa, both of whom succeeded to the throne. Mhv.xxxiv. 68ff.; xxxv.l.9; Dpv.xxi.34. He had a queen called Damiḷadevī (apparently a Tamil lady) who died young. ANa.i.13.
Mahā Dāṭhika Mahā Nāga. Em trai của Bhātikābhaya và là vua của Tích Lan trong mười hai năm (67-79 CN). Ông đã tạo một khoảng sân bằng đá kiñcikkha đặt trên vữa xung quanh Mahā Thūpa, và xây dựng Thūpa Ambatthala, làm cho nó trở nên vững chãi dẫu phải liều mạng sống của chính mình. Ông bố trí những chiếc ghế cho các vị Pháp sư tại tất cả các vihāra ở Tích Lan, và xây dựng khuôn viên xung quanh Cetiyagiri, tổ chức một buổi lễ kỷ niệm lớn được gọi là Giribhaṇḍapūjā (q.v.).
Từ Kadambanadī đến Cetiyagiri ông trải thảm để khách hành hương có thể bước đi thoải mái. Ông đã xây dựng các vihāra Maṇināgapabbata, Kalanda, Samudda, và Cūḷānāgapabbata, và dâng tặng đất để các tỳ-kheo sử dụng tại các vihāra Pāsāṇadīpaka và Maṇḍavāpi để tỏ lòng biết ơn đối với những ân huệ mà các sa-di của những tu viện này đã dành cho ông. Ông có hai con trai là Āmaṇḍagāmaṇī Abhaya và Kaṇirajānutissa, cả hai đều nối ngôi vua. Mhv.xxxiv. 68ff.; xxxv.l.9; Dpv.xxi.34. Ông có một vị vương phi tên là Damiḷadevī (có vẻ là một phu nhân người Tamil) qua đời khi còn trẻ. ANa.i.13.