Mahā Suññatāsutta draft
Mahā Suññatāsutta. Preached at Nigrodhārāma in Kapilavatthu. The Buddha was staying in the cell erected by Kāḷa Khemaka, and near by, in the cell erected by Ghaṭāya, Ānanda, with many monks, was making robes. The Buddha knew from the number of pallets outside the cells of Kāḷa Khemaka that many monks were in residence there. He therefore addressed Ānanda, telling him of the joys of tranquility and solitude. A monk should dwell apart and concentrate his heart internally and thus develop the four jhānas. He then knows that, whatever his posture, he will be free from evil dispositions; his speech will be free from faults, his thoughts pure. A monk should always search his heart to discover if he has any traffic with pleasures of sense. A disciple should follow his master’s footsteps, not in order to obtain interpretations of canonical law, but solely to hear words which conduce to passionlessness, illumination, Nibbāna (MN.iii.109-18).
The Sutta is also called Gaṇabheda, because it tends to break up crowds. Once, in the Vālikapiṭṭhivihāra, Ābhidhammika Abhaya recited this Sutta with several others, and, understanding its import, dwelt apart and attained Arahant-ship during the rains. MNa.ii.907.
Mahā Suññatāsutta. Được thuyết giảng tại Nigrodhārāma ở Kapilavatthu. Đức Phật đang ngụ trong căn phòng do Kāḷa Khemaka dựng lên, và ở gần đó, trong căn phòng do Ghaṭāya dựng lên, Ānanda, cùng với nhiều vị tỳ-kheo, đang may y. Đức Phật biết được từ số lượng chỗ nằm bên ngoài các căn phòng của Kāḷa Khemaka rằng có nhiều tỳ-kheo đang ngụ tại đó. Do đó, Ngài đã thuyết giảng đến Ānanda, nói cho ngài nghe về những niềm vui của sự tĩnh lặng và độc cư. Một tỳ-kheo nên sống tách biệt và tập trung tâm mình vào bên trong và như vậy phát triển bốn jhāna. Khi đó vị ấy biết rằng, trong bất kỳ tư thế nào của mình, vị ấy sẽ thoát khỏi các ác khuynh hướng; lời nói của vị ấy sẽ không có lỗi lầm, những suy nghĩ của vị ấy trong sạch. Một tỳ-kheo nên luôn luôn quán sát tâm mình để phát hiện xem liệu vị ấy có bất kỳ sự giao thiệp nào với các dục lạc hay không. Một đệ tử nên theo bước chân của bậc đạo sư, không phải để có được những diễn giải về giáo luật, mà chỉ duy nhất để nghe những lời dẫn đến sự ly tham, sự giác ngộ, Nibbāna (MN.iii.109-18).
Sutta này cũng được gọi là Gaṇabheda, bởi vì nó có khuynh hướng giải tán đám đông. Có một lần, trong Vālikapiṭṭhivihāra, Ābhidhammika Abhaya đã tụng đọc Sutta này cùng với một vài bài kinh khác, và, hiểu được ý nghĩa của nó, đã sống tách biệt và đạt được quả vị Arahant trong mùa an cư. MNa.ii.907.