Takkajātaka draft
Takkajātaka (Ja 63). Once the Bodhisatta was an ascetic on the banks of the Ganges, from which he rescued Duṭṭhakumārī, daughter of the seṭṭhi of Benares, who had been thrown into the flood during a storm by her long-suffering servants. The ascetic succumbed to the wiles of Duṭṭhakumārī and took up his abode with her in a village, where they earned their living by selling takka (curds or dates). He therefore came to be called Takkapaṇḍita. One day the village was looted by robbers, and they carried the woman away together with their booty. Living happily with the robber chief, she feared that her former husband might come to claim her; she therefore sent for him with sweet words, planning to have him killed.
While being beaten by the robber-chief, Takkapaṇḍita kept repeating, “Ungrateful wretches,” and, on being asked the reason, related the story. The robber thereupon killed the woman. Ānanda is identified with the robber-chief.
The story was related to a passion-tossed monk (Ja.i.295-99). The Jātaka is sometimes referred to as the Takkāriyajātaka, E.g., Ja.v.446 (16).
Takkajātaka (Ja 63). Thuở nọ Bodhisatta là một tu sĩ trên bờ sông Ganges, người đã giải cứu cho Duṭṭhakumārī, con gái của seṭṭhi vùng Benares, người đã bị quăng xuống dòng nước lũ trong một trận bão bởi những gia nhân chịu nhiều oan ức của cô. Tu sĩ đã gục ngã trước những cám dỗ của Duṭṭhakumārī và sống chung với cô ở một ngôi làng, nơi họ kiếm sống bằng nghề bán takka (sữa đông hoặc chà là). Do đó ông được gọi là Takkapaṇḍita. Một ngày nọ, ngôi làng bị cướp bóc bởi bọn cướp, và chúng bắt người phụ nữ đi cùng với chiến lợi phẩm của chúng. Sống hạnh phúc với tướng cướp, cô sợ người chồng cũ có thể đến đòi lại mình; do đó cô sai người mang lời đường mật đến gặp ông, với âm mưu thủ tiêu ông.
Trong lúc bị tướng cướp đánh đập, Takkapaṇḍita liên tục nhắc lại, "Những kẻ vô ơn bạc nghĩa," và, khi bị hỏi lý do, ông đã kể lại câu chuyện. Tướng cướp nghe xong bèn giết chết người phụ nữ. Ānanda được nhận diện là tướng cướp.
Câu chuyện được kể lại cho một vị tỳ-kheo đang bị dục tình khuấy động (Ja.i.295-99). Jātaka này đôi khi được gọi là Takkāriyajātaka, ví dụ, Ja.v.446 (16).