Tipallatthamigajātaka draft

Tipallatthamigajātaka (Ja 16). Once the Bodhisatta was born as a stag, leader of a herd of deer. Rāhula was his sister’s son and was entrusted to him, that he might learn the “deer’s tricks.” The young stag followed his instruction diligently and one day, being caught in a net, he feigned death and so made his escape.

The story was told in reference to Rāhula. Once, at the Aggāḷavacetiya, the Buddha, noticing that monks were in the habit of sleeping with novices in the preaching-hall after the sermon, passed a rule making this a pācittiya-offence. As a result, Rāhula could find no lodging and spent the night in the Buddha’s jakes, not wishing to transgress the rule. The Buddha, discovering this, assembled the monks and blamed them for their thoughtlessness, for if they thus treated his son, what might they not do to the other novices. The rule about lodgings was thereupon modified. The story was related to show Rāhula’s diligence in following rules (Ja.i.160ff; cp. Vin.iv.16).

The Jātaka seems also to have been called the Sikkhākāmajātaka. JA.1876, p.516.

Tipallatthamigajātaka (Ja 16). Bodhisatta từng sinh ra là một con hươu đực, thủ lĩnh của một bầy hươu. Rāhula là con trai của em gái ngài và được giao phó cho ngài để học "những mánh khóe của loài hươu." Con hươu non làm theo lời dạy của ngài một cách siêng năng và một ngày nọ, bị bắt trong lưới, nó đã giả chết và nhờ vậy mà trốn thoát.

Câu chuyện được kể liên quan đến Rāhula. Một lần, tại Aggāḷavacetiya, Đức Phật, nhận thấy các tỳ-kheo có thói quen ngủ với các sa-di trong pháp đường sau bài pháp, đã thông qua một điều luật coi điều này là tội pācittiya. Kết quả là, Rāhula không thể tìm thấy chỗ ở và đã ngủ lại qua đêm trong nhà vệ sinh của Đức Phật, vì không muốn phạm luật. Đức Phật phát hiện ra điều này, tập hợp các tỳ-kheo lại và khiển trách họ vì sự vô tâm của họ, bởi vì nếu họ đối xử với con trai ngài như vậy, thì họ sẽ làm gì với các sa-di khác. Điều luật về chỗ ở sau đó đã được sửa đổi. Câu chuyện được kể lại để cho thấy sự siêng năng của Rāhula trong việc tuân theo các giới luật (Ja.i.160ff; cp. Vin.iv.16).

Jātaka dường như cũng được gọi là Sikkhākāmajātaka. JA.1876, p.516.