Bālakaloṇakārāma draft

Bālakaloṇakārāma, Bākaloṇakārāgama. A locality near Kosambī. When the monks of Kosambī started quarrelling, the Buddha left them and went to Bālakaloṇakārāma, where he visited Bhagu and preached to him on the virtues of solitude. From there the Buddha proceeded to Pācīnavaṁsadāya (Vin.i.350; MN.iii.154; Dhp­a.i.47; Ja.iii.489).

The readings of the texts are uncertain, and it is impossible to say whether a village (gāma) is meant or only a grove (ārāma).

The reading Bālakaloṇakāragāma occurs in the Majjhima Commentary (MN­a.ii.596); but even here two explanations are given: one to the effect that Bālaka was the name of a village of salt makers (? loṇakāragāma) belonging to Upāli gahapati. When the inhabitants of the village came to Upāli with their taxes, he went with them (bālakagāmavāsiniyā... parisāya) to see Nigaṇṭha Nātaputta.

The other explanation is that the word bālakiniyā in the text is an adjective meaning “composed of fools” (bālavatiyā bālussannāya, cp. Ja.i.246, where mention is made of bālagāmikamanussā who were obviously fools). The confusion seems, therefore, to have arisen very early. Upāli’s village (of Bāka), if such a place existed, was probably near Nālandā.

Bālakaloṇakārāma, Bākaloṇakārāgama. Một địa danh gần Kosambī. Khi các tỳ-kheo ở Kosambī bắt đầu cãi vã, Đức Phật đã rời bỏ họ và đi đến Bālakaloṇakārāma, nơi Ngài đến thăm Bhagu và thuyết giảng cho ông về những lợi ích của đời sống độc cư. Từ đó, Đức Phật tiếp tục đi đến Pācīnavaṁsadāya (Vin.i.350; MN.iii.154; Dhp­a.i.47; Ja.iii.489).

Các cách đọc của các văn bản không chắc chắn, và không thể nói liệu ý nghĩa ở đây là một ngôi làng (gāma) hay chỉ là một khu rừng (ārāma).

Cách đọc Bālakaloṇakāragāma xuất hiện trong Chú giải Majjhima (MN­a.ii.596); nhưng ngay cả ở đây cũng có hai lời giải thích được đưa ra: một nói rằng Bālaka là tên của một ngôi làng làm muối (? loṇakāragāma) thuộc về gahapati (gia chủ) Upāli. Khi những cư dân của ngôi làng mang thuế đến nộp cho Upāli, ông đã cùng đi với họ (bālakagāmavāsiniyā... parisāya) đến gặp Nigaṇṭha Nātaputta.

Lời giải thích còn lại là từ bālakiniyā trong văn bản là một tính từ có nghĩa là "bao gồm những kẻ ngu ngốc" (bālavatiyā bālussannāya, so sánh với Ja.i.246, nơi có nhắc đến bālagāmikamanussā, rõ ràng là chỉ những kẻ ngu ngốc). Do đó, sự nhầm lẫn dường như đã phát sinh từ rất sớm. Ngôi làng của Upāli (của Bāka), nếu một nơi như vậy thực sự tồn tại, thì có lẽ nằm gần Nālandā.