Cūḷa Piṇḍapātiyatissa draft
Cūḷa Piṇḍapātiyatissa, Culla Piṇḍapātiyatissa (Cūḷa Piṇḍapātikatissa). A monk mentioned in the Commentaries (e.g., MNa.i.355) in explaining the term muttamuttaka. A certain lay-woman waited on him for twelve years. One day a fire broke out in the village and burnt her house, together with those of others. The monks who were fed at neighbouring houses went there to enquire whether anything had been served, but Tissa did not arrive until the mealtime, and when given a meal which the woman had prepared with great difficulty, ate it and went away without a word. The woman, however, was not a whit disturbed by the taunts of her neighbours.
This may be the Elder who, in the Aṅguttara Commentary (ANa.i.21f), is mentioned as having resided in Gāmeṇḍavāla Mahā Vihāra in Rohaṇa and ordained Milakkhatissa. The same Commentary (i.367) mentions a Cūḷa Piṇḍapātiyatissa of Girivihāra in (Ceylon). He, with his divine eye, saw a Tamil gate-keeper of Madhu-aṅgaṇagāma who, having been a fisherman for fifty years, lay dying. The Elder went to his house and made him repeat the Refuges and the Precepts. The man could not repeat beyond the first Precept, but he was born after death in the Cātummahārājika-world, and came to tell the Elder about it.
The Visuddhimagga (p.116) speaks of an Elder of the same name who had three pupils. They came to him and said they were prepared to do anything whatever for his sake, even to suffer torture and die. He thought them “possible fellows” and preached to them, whereupon they became Arahants. The same Elder it may be who saw an elephant-corpse in Kāḷadīghavāpi Lake and developed his meditation on the “wormful abomination” (Ibid., p.191).
Cūḷa Piṇḍapātiyatissa, Culla Piṇḍapātiyatissa (Cūḷa Piṇḍapātikatissa). Một vị tỳ-kheo được nhắc đến trong các Chú giải (e.g., MNa.i.355) khi giải thích thuật ngữ muttamuttaka. Một nữ cư sĩ nọ đã phục vụ ông trong mười hai năm. Một ngày nọ, một trận hỏa hoạn bùng phát trong ngôi làng và thiêu rụi ngôi nhà của bà, cùng với những ngôi nhà của những người khác. Các tỳ-kheo thường được cúng dường tại các ngôi nhà lân cận đã đến đó để hỏi xem liệu có thức ăn nào được dọn ra không, nhưng Tissa đã không đến cho tới giờ thọ thực, và khi được trao cho một bữa ăn mà người phụ nữ đã chuẩn bị với rất nhiều khó khăn, ông đã ăn nó và rời đi mà không nói một lời nào. Tuy nhiên, người phụ nữ không mảy may bận tâm bởi những lời chế nhạo của những người hàng xóm.
Đây có thể là vị Trưởng lão mà, trong Chú giải Aṅguttara (ANa.i.21f), được nhắc đến là đã cư ngụ tại Gāmeṇḍavāla Mahā Vihāra ở Rohaṇa và đã truyền giới cho Milakkhatissa. Cùng Chú giải đó (i.367) nhắc đến một Cūḷa Piṇḍapātiyatissa của Girivihāra ở (Tích Lan). Ông, bằng thiên nhãn (dibbacakkhu) của mình, đã nhìn thấy một người gác cổng gốc Tamil của Madhu-aṅgaṇagāma, người đã làm nghề đánh cá trong năm mươi năm, đang nằm chờ chết. Trưởng lão đã đi đến nhà ông ta và bảo ông ta lặp lại các Quy y và các Giới. Người đàn ông không thể lặp lại ngoài Giới đầu tiên, nhưng sau khi chết, ông ta đã được tái sinh vào cõi Cātummahārājika, và đã đến kể cho Trưởng lão nghe về điều đó.
Visuddhimagga (p.116) nói về một vị Trưởng lão cùng tên có ba người học trò. Họ đến chỗ ông và nói rằng họ sẵn sàng làm bất cứ điều gì vì ông, thậm chí chịu đựng tra tấn và cái chết. Ông nghĩ họ là những “người có triển vọng” và đã thuyết pháp cho họ, nhờ đó họ trở thành các Arahant. Cũng có thể chính vị Trưởng lão này là người đã nhìn thấy một xác chết voi ở hồ Kāḷadīghavāpi và phát triển đề mục thiền của mình về “sự gớm ghiếc đầy giòi bọ” (Ibid., p.191).