Gijjhajātaka draft
01. Gijjhajātaka 01 draft
Gijjhajātaka 01. (Ja 164). Once the Bodhisatta was born among the vultures on Gijjhakūṭapabbata. On one occasion there was a great storm of wind and rain, and the vultures were forced to seek shelter in a ditch outside Benares. A merchant, seeing them, provided them with a warm fire and food. When the weather cleared the vultures returned to their haunts, and decided to give the merchant whatever finery and jewellery they might find in their wanderings. These they dropped in the merchant’s garden. The king, hearing of their depredations, set traps and caught a vulture, who confessed the truth, which was corroborated by the merchant. The vulture was set free and the goods were returned to their owners.
Ānanda was the king, and Sāriputta the merchant.
The story was told in reference to a monk who was charged with having supported his poor parents. The Buddha praised the man’s action, saying that such gratitude was an excellent quality. Ja.ii.50f.; see also the Sāmajātaka.
Gijjhajātaka 01. (Ja 164). Xưa kia Bodhisatta được sinh ra giữa loài kền kền trên Gijjhakūṭapabbata. Trong một dịp nọ có một trận cuồng phong và mưa lớn, những con kền kền buộc phải tìm nơi trú ẩn trong một con mương bên ngoài Benares. Một thương gia, nhìn thấy chúng, đã cung cấp cho chúng lửa ấm và thức ăn. Khi thời tiết quang đãng, những con kền kền quay trở lại nơi ở của chúng, và quyết định sẽ trao cho vị thương gia bất cứ đồ trang sức và nữ trang nào mà chúng có thể tìm thấy trong những chuyến đi lang thang của mình. Chúng thả những thứ này trong khu vườn của vị thương gia. Nhà vua, khi nghe về sự cướp bóc của chúng, đã đặt bẫy và bắt được một con kền kền, nó đã thú nhận sự thật, điều này đã được vị thương gia xác nhận. Con kền kền được thả tự do và hàng hóa được trả lại cho chủ nhân của chúng.
Ānanda là nhà vua, và Sāriputta là thương gia.
Câu chuyện này được kể liên quan đến một vị tỳ-kheo bị buộc tội đã phụng dưỡng cha mẹ nghèo của mình. Đức Phật ca ngợi hành động của người đàn ông này, nói rằng lòng biết ơn như vậy là một phẩm chất tuyệt vời. Ja.ii.50f.; xem thêm Sāmajātaka.
02. Gijjhajātaka 02 draft
Gijjhajātaka 02. (Ja 399). Once the Bodhisatta was a vulture, and supported his blind parents who lived in a cave. One day, being caught in a trap, he was heard by a hunter lamenting for his parents; the hunter set him free.
The story was told in reference to a monk who supported his mother. Channa was the hunter. Ja.iii.330f.
Gijjhajātaka 02. (Ja 399). Xưa kia Bodhisatta là một con kền kền, và phụng dưỡng cha mẹ mù lòa sống trong một hang động. Một ngày nọ, bị mắc bẫy, con kền kền đã được một người thợ săn nghe thấy nó than khóc cho cha mẹ mình; người thợ săn đã thả nó ra tự do.
Câu chuyện này được kể liên quan đến một vị tỳ-kheo đã phụng dưỡng mẹ mình. Channa là người thợ săn. Ja.iii.330f.
03. Gijjhajātaka 03 draft
Gijjhajātaka 03. (Ja 427). Once the Bodhisatta was a vulture in Gijjhapabbata. His son, Supatta, was king of the vultures; he was very strong and supported his parents. One day, against the advice of his father, he flew in the upper air and was dashed to death by the Veramba-wind.
The story was related in reference to a disobedient monk of good family, who objected to being instructed in his duties (Ja.iii.483f.; cf. the Migalopajātaka; see also the Dubbacajātaka and the Indasamānagottajātaka).
The Catudvārajātaka (Ja.iv.1ff) was related in reference to the same monk.
Gijjhajātaka 03. (Ja 427). Xưa kia Bodhisatta là một con kền kền ở Gijjhapabbata. Con trai của ông, Supatta, là vua của loài kền kền; anh ta rất mạnh mẽ và phụng dưỡng cha mẹ mình. Một ngày nọ, bất chấp lời khuyên của cha mình, anh ta đã bay ở vùng không khí thượng tầng và bị gió Veramba quật chết.
Câu chuyện này được kể liên quan đến một vị tỳ-kheo không vâng lời, xuất thân từ một gia đình tốt, người đã phản đối việc được hướng dẫn về các bổn phận của mình (Ja.iii.483f.; cf. Migalopajātaka; xem thêm Dubbacajātaka và Indasamānagottajātaka).
Catudvārajātaka (Ja.iv.1ff) đã được kể liên quan đến chính vị tỳ-kheo này.