Pakkha Thera draft
Pakkha Thera. An Arahant. He was a Sākyan of Devadaha and was called Sammoda, but in his boyhood he suffered from rheumatism (vātaroga) and was crippled for some time; hence he came to be called Pakkha (cripple) even after his recovery. When the Buddha visited his kinsfolk he entered the Saṅgha and lived in the forest. One day he saw a kite flying up into the sky with some flesh, from which first one kite and then another grabbed a piece. Reflecting that worldly desires were like the flesh taken by the kite, he developed insight and attained Arahant-ship.
In the time of Vipassī Buddha he had been a Yakkha senāpati with a retinue of eighty-four thousand and had given the Buddha a divine robe.
Fifteen kappas ago he was sixteen times Cakkavatti under the name of Suvāhana (Vāhana) (Thag.vs.63; Thaga.i.144f).
He is evidently identical with Mahā Parivāra of the Apadāna. Ap.i.146f.
Pakkha Thera. Một vị Arahant. Ngài là một người Sākyan ở Devadaha và tên là Sammoda, nhưng thuở nhỏ ngài mắc bệnh thấp khớp (vātaroga) và bị tàn tật một thời gian; do đó ngài bị gọi là Pakkha (người tàn tật) ngay cả sau khi đã hồi phục. Khi Đức Phật về thăm thân tộc, ngài đã gia nhập Tăng đoàn và sống trong rừng. Một ngày nọ, ngài nhìn thấy một con diều hâu gắp một miếng thịt bay lên trời, từ miếng thịt đó, hết con diều hâu này đến con diều hâu khác lao vào giành giật. Quán chiếu rằng những ham muốn thế tục cũng giống như miếng thịt bị diều hâu gắp lấy, ngài phát triển tuệ quán và đắc quả Arahant.
Vào thời của Vipassī Buddha ngài từng là một Yakkha tướng quân (senāpati) với đoàn tùy tùng gồm tám mươi bốn ngàn người và đã cúng dường Đức Phật một y phục chư thiên.
Mười lăm kappa trước, ngài mười sáu lần làm vua chuyển luân (Cakkavatti) với tên gọi Suvāhana (Vāhana) (Thag.vs.63; Thaga.i.144f).
Rõ ràng ngài chính là Mahā Parivāra trong Apadāna. Ap.i.146f.