Tesakuṇajātaka draft
Tesakuṇajātaka (Ja 521). Once upon a time, the king of Benares had no heir, but finding three eggs in a nest – an owl’s, a mynah’s, and a parrot’s – he brought them, and when they were hatched out, adopted the birds as his children, giving them the names of Vessantara, Kuṇḍalinī and Jambuka. When they had grown up in the houses of the courtiers who had charge of them, the king had them summoned one by one, and asked them for advice as to how a king should reign. Each admonished the king in eleven stanzas, and, at the suggestion of the admiring populace, they were given respectively the ranks of general, treasurer, and commander-in-chief. When the king died, the people wished to make Jambuka king, but, having inscribed rules of righteousness on a golden plate, he disappeared into the forest.
The story was related in reference to the admonitions delivered by the Buddha to the king of Kosala. The king of the past was Ānanda, Kuṇḍalinī was Uppalavaṇṇā, Vessantara, Sāriputta and Jambuka the Bodhisatta (Ja.v.109-25).
The verses uttered by Jambuka are often quoted, e.g., Ja.i.177; vi.94.
Tesakuṇajātaka (Ja 521). Ngày xửa ngày xưa, vua của xứ Benares không có người thừa kế, nhưng tìm thấy ba quả trứng trong một cái tổ – của một con cú, một con sáo sậu và một con vẹt – nhà vua đã mang chúng về, và khi chúng nở ra, ông đã nhận bầy chim làm con nuôi, đặt tên cho chúng là Vessantara, Kuṇḍalinī và Jambuka. Khi chúng lớn lên trong nhà của các quan đại thần được giao nhiệm vụ chăm sóc chúng, nhà vua đã cho gọi từng con đến và yêu cầu chúng đưa ra lời khuyên về cách một vị vua nên cai trị. Mỗi con chim đã khuyên răn nhà vua bằng mười một khổ thơ, và, theo sự đề nghị của dân chúng đang thán phục, chúng lần lượt được ban cho các tước vị tướng quân, thủ quỹ và tổng tư lệnh quân đội. Khi nhà vua băng hà, dân chúng muốn tôn Jambuka lên làm vua, nhưng sau khi cho khắc những quy tắc chân chính lên một tấm đĩa vàng, cậu đã biến mất vào trong rừng.
Câu chuyện này được kể lại liên quan đến những lời khuyên răn mà Đức Phật dành cho vua của xứ Kosala. Vị vua trong quá khứ là Ānanda, Kuṇḍalinī là Uppalavaṇṇā, Vessantara là Sāriputta và Jambuka là Bodhisatta (Ja.v.109-25).
Những vần thơ do Jambuka thốt ra thường được trích dẫn, ví dụ: Ja.i.177; vi.94.