Amara redirect, draft

01. Amara 01 redirect

Redirect target: Amaravatī 01

Amara 01. See Amaravatī.

Chưa dịch.

02. Amara 02 draft

Amara 02. A city in the time of Siddhattha Buddha. The Buddha, being there, made his way to the pleasaunce (Amaruyyāna) of the city, leaving his footprints to show his path. The two chiefs of the city, Sambahula and Sumitta, brothers, seeing the footmarks, went themselves to the pleasaunce, and having listened to the Buddha’s preaching became Arahants (Bv­a.186).

Amara 02. Một thành phố vào thời Đức Phật Siddhattha (Siddhattha Buddha). Khi Đức Phật ở đó, Ngài đã đi đến khu ngự uyển (Amaruyyāna) của thành phố, để lại các dấu chân biểu thị đường đi của mình. Hai anh em SambahulaSumitta, những người đứng đầu thành phố này, khi nhìn thấy các dấu chân, đã tự mình đến khu ngự uyển, và sau khi lắng nghe Đức Phật thuyết pháp, họ đã đắc quả vị Arahant (Bv­a.186).

3. Amarā draft

Amarā (Amarādevī). Wife of Mahosadha. She was the daughter of a merchant who had fallen on evil days. Mahosadha, while seeking for a wife, met her as she was taking a meal to her father and entered into conversation with her. He asked her various questions and she answered in riddles. Mahosadha went to her father’s house and plied his trade as a tailor, taking the opportunity of observing the girl’s behaviour. He tested her temper and her character in various ways, and being satisfied that she was altogether desirable, he married her with the approval of Queen Udumbarā. She became popular with everybody and was of great assistance to her husband in frustrating the attempts of his enemies to work him harm (Ja.vi.364-72, 392; the story appears also in Mvu.ii.83).

In the present age Amarā was the beautiful Bimbādevī (Ja.vi.478).

In the Milinda (pp.205ff) the king mentions the story of Amarādevī having been left behind in the village while her husband was away on a journey, and of her resisting a temptation to be unfaithful to him. “If that be true, how,” asks the king, “could you justify the Buddha’s statement that all women will go wrong, failing others, even with a cripple?” Incidentally, these words do not really belong to the Buddha. They appear in the Kuṇālajātaka (Ja.v.435), which is a specimen of Indian folklore and not of Buddhist belief. Nāgasena explains this by saying that Amarā did not sin because she had neither real secrecy nor opportunity nor the right-wooer!

Amarā (Amarādevī). Vợ của Mahosadha. Nàng là con gái của một thương nhân sa cơ lỡ vận. Mahosadha, trong lúc đang tìm kiếm vợ, đã gặp nàng khi nàng đang mang thức ăn cho cha mình và bắt chuyện với nàng. Ông hỏi nàng nhiều câu hỏi khác nhau và nàng đã trả lời bằng những câu đố. Mahosadha đến nhà cha nàng và làm nghề thợ may để tận dụng cơ hội quan sát hành vi của cô gái. Ông đã thử thách tính khí và phẩm hạnh của nàng bằng nhiều cách khác nhau, và khi hài lòng rằng nàng là một người hoàn hảo về mọi mặt, ông đã kết hôn với nàng dưới sự chấp thuận của Hoàng hậu Udumbarā. Nàng được mọi người yêu mến và đã giúp đỡ chồng rất nhiều trong việc ngăn chặn các âm mưu làm hại ông của kẻ thù (Ja.vi.364-72, 392; câu chuyện này cũng xuất hiện trong Mvu.ii.83).

Trong kiếp hiện tại, Amarā chính là nàng Bimbādevī xinh đẹp (Ja.vi.478).

Trong tác phẩm Milinda (tr.205ff), nhà vua đề cập đến câu chuyện Amarādevī bị bỏ lại trong làng khi chồng nàng đang đi xa, và việc nàng cưỡng lại sự cám dỗ để không phản bội chồng. Vua hỏi: “Nếu điều đó là đúng, làm sao ông có thể lý giải cho lời tuyên bố của Đức Phật rằng tất cả phụ nữ đều sẽ lầm lạc, nếu không tìm được ai khác thì ngay cả với một kẻ tàn tật?”. Nói thêm, những lời này thực chất không phải của Đức Phật. Chúng xuất hiện trong Kuṇālajātaka (Ja.v.435), vốn là một ví dụ về văn học dân gian Ấn Độ chứ không phải là giáo lý Phật giáo. Nāgasena giải thích điều này bằng cách nói rằng Amarā không phạm tội vì nàng không có được sự bí mật thực sự, không có cơ hội, và cũng không có người theo đuổi thích hợp!