Belaṭṭhasīsa Thera draft

Belaṭṭhasīsa Thera. An Arahant, preceptor of Ānanda. He was once afflicted with scurvy and his robes clung to him. The monks thereupon applied water to the robes, but when the Buddha heard of it he made a rule allowing necessary therapeutic measures (Vin.i.202, 295f).

At one time this Thera would lie in the forest where he kept a store of dried boiled rice. When he needed food, after samāpatti he would sprinkle water on the rice and eat it instead of going for alms. When this was reported to the Buddha, he blamed Belaṭṭhasīsa for storing up food and promulgated a rule forbidding this (Vin.iv.86).

The Dhammapada Commentary (Dhp­a.ii.171), however, states that the offence was committed after the rule was laid down, and, because the food was stored, not because of greed but through lack of covetousness, the Buddha declared Belaṭṭhasīsa free from guilt.

Belaṭṭhasīsa was a Brahmin of Sāvatthī who had left the world under Uruvelā Kassapa before the Buddha’s Awakening and was converted when Uruvelā Kassapa became a follower of the Buddha.

He had been a monk in the time of Padumuttara Buddha, but could achieve no attainment. He once gave a mātuluṅga-fruit to Vessabhū Buddha (Thag­a.i.67 ff.; Thag.vs.16).

He is probably identical with Mātuluṅgaphaladāyaka of the Apadāna. Ap.ii.446.

Belaṭṭhasīsa Thera. Một vị Arahant, vị tế sư của Ānanda. Có một lần ông bị mắc bệnh scorbut và các y của ông dính chặt vào người. Các tỳ-kheo sau đó đã vẩy nước vào các y, nhưng khi Đức Phật nghe nói về điều đó ngài đã đặt ra một điều luật cho phép các biện pháp trị liệu cần thiết (Vin.i.202, 295f).

Tại một thời điểm, vị Thera này thường nằm trong khu rừng nơi ông cất giữ một kho gạo luộc phơi khô. Khi ông cần thức ăn, sau khi xuất samāpatti ông sẽ rắc nước lên gạo và ăn nó thay vì đi khất thực. Khi điều này được báo cáo lên Đức Phật, ngài đã khiển trách Belaṭṭhasīsa vì đã tích trữ thức ăn và ban hành một điều luật nghiêm cấm điều này (Vin.iv.86).

Tuy nhiên, Chú giải Dhammapada (Dhp­a.ii.171) nói rằng lỗi này đã được thực hiện sau khi điều luật đã được đặt ra, và, bởi vì thức ăn được cất giữ, không phải vì lòng tham mà do sự thiếu tham muốn, Đức Phật đã tuyên bố Belaṭṭhasīsa vô tội.

Belaṭṭhasīsa là một người Bà-la-môn ở Sāvatthī đã xuất gia dưới sự hướng dẫn của Uruvelā Kassapa trước sự Giác ngộ của Đức Phật và đã được hóa độ khi Uruvelā Kassapa trở thành người đi theo Đức Phật.

Ông đã từng là một vị tỳ-kheo trong thời của Padumuttara Buddha, nhưng không thể đạt được thành tựu nào. Có một lần ông đã dâng một trái mātuluṅga cho Vessabhū Buddha (Thag­a.i.67 ff.; Thag.vs.16).

Ông có lẽ đồng nhất với Mātuluṅgaphaladāyaka của Apadāna. Ap.ii.446.