Gaṅgātīriya Thera draft
Gaṅgātīriya Thera. An Arahant. He was a householder named Datta of Sāvatthī. On discovering that he had, though unwittingly, committed incest with both his mother and sister, he was overcome with anguish and left the world. He adopted a course of austerity, dwelling in a hut of palm leaves on the bank of the Ganges, hence his name. For a whole year he kept silence; in the second year he spoke but once to a woman who, in filling his bowl, spilt the milk, wishing to discover if he were dumb. In the third year he became an Arahant.
In the time of Padumuttara Buddha he was a householder, and supplied drinks to monks (Thag.v.127-8; Thaga.i.248f).
It is said that after Gaṅgātīriya’s conception his mother was driven out of her house in the absence of her husband, her mother-in-law suspecting her of infidelity (Thaga.195f.; Thīg.224f). The child was born in a travellers’ rest-house in Rājagaha, whither she had gone in search of her husband, and was taken away by a caravan leader who happened to see it when its mother was away bathing. Later the woman was carried away by a robber chief, by whom she had a daughter. One day, in a quarrel with her husband, she threw her daughter on the bed, wounding her on the head, and fearing her husband’s wrath she fled to Rājagaha, where she became a courtesan and later mistress of Gaṅgātīriya, who was unaware of his relationship to her. Some time afterwards he took to wife the robber’s daughter as well. One day, while looking at the young wife’s head, the older one saw the wound, and as a result of her questions learnt the truth. Filled with dismay, both mother and daughter became nuns, and Gaṅgātīriya left the world as mentioned above.
Gaṅgātīriya is perhaps to be identified with Udakadāyaka of the Apadāna. (Ap.ii.437; but the verses are also ascribed to Mahā Gavaccha, Thaga.i.57).
Gaṅgātīriya Thera. Một vị Arahant. Ngài vốn là một cư sĩ tên Datta ở Sāvatthī. Khi phát hiện mình, dù không cố ý, đã phạm tội loạn luân với cả mẹ và em gái mình, ngài chìm trong đau khổ tột cùng và từ bỏ thế tục. Ngài chọn lối sống khổ hạnh, cư ngụ trong một túp lều lá cọ trên bờ sông Gaṅgā, do đó có tên như vậy. Suốt một năm ngài giữ im lặng; sang năm thứ hai, ngài chỉ nói một lần với một người phụ nữ, khi bà đổ đầy bát của ngài và làm đổ sữa ra, muốn thử xem ngài có câm hay không. Đến năm thứ ba, ngài trở thành một vị Arahant.
Vào thời Đức Phật Padumuttara, ngài là một cư sĩ, và đã cung cấp thức uống cho chư tăng (Thag.v.127-8; Thaga.i.248f).
Có nói rằng sau khi Gaṅgātīriya được thụ thai, mẹ ngài đã bị đuổi khỏi nhà trong lúc chồng bà vắng mặt, vì mẹ chồng nghi ngờ bà không chung thủy (Thaga.195f.; Thīg.224f). Đứa bé được sinh ra trong một quán trọ dành cho lữ khách ở Rājagaha, nơi bà đã đến để tìm chồng, và bị một người trưởng đoàn lữ hành bắt đi khi tình cờ trông thấy lúc mẹ nó đang đi tắm. Sau đó, người phụ nữ này bị một tên trùm cướp bắt đi, và có với hắn một đứa con gái. Một hôm, trong lúc cãi nhau với chồng, bà ném con gái mình lên giường, làm con bị thương ở đầu, và vì sợ chồng nổi giận, bà trốn đến Rājagaha, nơi bà trở thành một kỹ nữ và sau đó là tình nhân của Gaṅgātīriya, người không hề biết mối quan hệ của mình với bà. Một thời gian sau, ngài còn lấy cả con gái của tên cướp làm vợ. Một hôm, khi nhìn vào đầu của người vợ trẻ, người vợ lớn tuổi hơn thấy vết thương, và qua những câu hỏi của mình, bà biết được sự thật. Cả mẹ và con gái, tràn ngập kinh hoàng, đều xuất gia làm ni, và Gaṅgātīriya từ bỏ thế tục như đã nói ở trên.
Gaṅgātīriya có lẽ được đồng nhất với Udakadāyaka trong Apadāna. (Ap.ii.437; nhưng những bài kệ này cũng được gán cho Mahā Gavaccha, Thaga.i.57).