Kalyāṇivihāra draft
Kalyāṇivihāra (Kalyāṇikavihāra). A monastery attached to the Kalyāṇicetiya. It was from the earliest times the residence of eminent monks, such as Dhammagutta (Dhamma-protector) and his five hundred colleagues (Mhv.xxxii.51) and of Godattatthera (MNa.i.100). Here a Thera, called Piṇḍapātiya, once recited the Brahmajālasutta, and the earth trembled as he finished his recital (DNa.i.131). Near the vihāra was the village of Kāḷadīghavāpigāma, where monks who lived in the monastery went for alms (Snp-a.i.70; ANa.i.13).
King Kaniṭṭhatissa built in this monastery an uposatha-hall (Mhv.xxxvi.17). Vijayabāhu III. restored the vihāra, which had been damaged by the Damiḷas, and reconstructed the cetiya, crowning it with a golden finial. He also built a gate-tower on the eastern side (Cv.lxxxi.59f).
In the fourteenth century Alagakkonāra seems to have bestowed great patronage on the monastery, and to have done many things for its improvement (See Ceylon Antiquary and Literary Register i.152; ii.149, 182).
Even in the fifteenth century the monastery was evidently considered one of the chief centres of the Saṅgha in Ceylon, for we find that the monks, sent by Dhammaceti from Rāmañña to Ceylon, received their ordination in the sīmā of Kalyāṇivihāra, and that on their return they consecrated a sīmā in Pegu known as the Kalyāṇisīmā (Bode, 38).
Kalyāṇivihāra (Kalyāṇikavihāra). Một tu viện gắn liền với Kalyāṇicetiya. Kể từ những thời kỳ đầu tiên, nó đã là nơi cư trú của những vị tỳ-kheo lỗi lạc, chẳng hạn như Dhammagutta (Người bảo vệ Pháp) và năm trăm đồng đạo của ngài (Mhv.xxxii.51) và của Godattatthera (MNa.i.100). Ở đây có một vị Trưởng lão, được gọi là Piṇḍapātiya, có một lần đã tụng đọc Brahmajālasutta, và trái đất đã rung chuyển khi tôn giả hoàn tất bài tụng đọc của mình (DNa.i.131). Gần vihāra là ngôi làng Kāḷadīghavāpigāma, nơi các tỳ-kheo sống trong tu viện đã đi đến để khất thực (Snp-a.i.70; ANa.i.13).
Vua Kaniṭṭhatissa đã xây dựng một hội trường uposatha trong tu viện này (Mhv.xxxvi.17). Vijayabāhu III. đã trùng tu vihāra, vốn đã bị tàn phá bởi những người Damiḷa, và tái thiết lại cetiya, đội vương miện cho nó bằng một đỉnh tháp bằng vàng. Ông cũng đã xây dựng một tòa tháp cổng ở phía đông (Cv.lxxxi.59f).
Vào thế kỷ thứ mười bốn, Alagakkonāra dường như đã ban tặng sự bảo trợ to lớn cho tu viện, và đã làm nhiều việc cho việc cải tạo tu viện (Xem Ceylon Antiquary and Literary Register i.152; ii.149, 182).
Thậm chí vào thế kỷ thứ mười lăm, tu viện rõ ràng đã được coi là một trong những trung tâm chính yếu của Tăng đoàn ở Tích Lan, vì chúng ta thấy rằng các vị tỳ-kheo, được Dhammaceti cử đi từ Rāmañña đến Tích Lan, đã thọ giới tại sīmā của Kalyāṇivihāra, và khi trở về, họ đã làm phép thánh cho một sīmā ở Pegu được biết đến với tên gọi là Kalyāṇisīmā (Bode, 38).