Kassapagotta draft
01. Kassapagotta 01 draft
02. Kassapagotta 02 draft
Kassapagotta 02. A monk living in Vāsabhagāma in the Kāsi kingdom. He was in the habit of showing extreme hospitality to the monks who came there from other parts. Once some monks who visited him enjoyed his hospitality and stayed on. After some time, feeling that they had outstayed their welcome, Kassapagotta grew tired of looking after them and was blamed by them for his neglect. He therefore went to Campā, where he laid his case before the Buddha, who declared that no blame attached to him. Vin.i.312ff.
Kassapagotta 02. Một tỳ-kheo sống ở Vāsabhagāma thuộc vương quốc Kāsi. Ngài có thói quen thể hiện sự hiếu khách hết mực với những vị tỳ-kheo đến đó từ những vùng khác. Có một lần vài tỳ-kheo đến thăm ngài đã tận hưởng lòng hiếu khách của ngài và ở lại. Một thời gian sau, cảm thấy rằng họ đã ở lại quá lâu so với sự chào đón, Kassapagotta dần mệt mỏi với việc chăm sóc họ và bị họ trách móc vì sự chểnh mảng. Do đó, ngài đã đến Campā, trình bày trường hợp của mình trước Đức Phật, và ngài đã tuyên bố rằng không có lỗi gì thuộc về Kassapagotta. Vin.i.312ff.
03. Kassapagotta 03 draft
Kassapagotta 03. A monk living in Paṅkadhā in the Kosala country. He heard the Buddha preach a sermon, but was not satisfied with it and kept on thinking: “This recluse” (meaning the Buddha) “is much too scrupulous” (adhisallikhat’evāyaṁ). Later, he was filled with remorse and, having sought the Buddha at Rājagaha, begged forgiveness for his thoughtlessness.
The Buddha praised him for having seen his transgression, and for his confession thereof and determination to practise self-restraint. AN.i.236f.
Kassapagotta 03. Một tỳ-kheo sống ở Paṅkadhā trong đất nước Kosala. Ngài đã nghe Đức Phật thuyết một bài pháp, nhưng không hài lòng với bài pháp đó và cứ nghĩ rằng: “Vị sa-môn này” (ám chỉ Đức Phật) “quá đỗi câu nệ” (adhisallikhat’evāyaṁ). Sau này, ngài cảm thấy hối hận và, sau khi tìm đến Đức Phật tại Rājagaha, ngài đã cầu xin sự tha thứ cho sự thiếu suy nghĩ của mình.
Đức Phật ca ngợi ngài vì đã nhận ra lỗi lầm của mình, và vì sự thú tội cũng như quyết tâm thực hành tự thu nhiếp. AN.i.236f.
04. Kassapagotta 04 draft
Kassapagotta 04. A monk, perhaps to be identified with one of the foregoing. He was once staying in a forest tract in Kosala and, seeing a trapper pursuing deer, intervened and protested against the man’s earning his living by such cruel means. The trapper was too preoccupied with his quarry to pay much attention to what was said. A Deva of the forest drew near the monk and instructed him not to waste his time in preaching to a man who heard but did not understand what was being said. Kassapa was inspired and, according to the Commentary, gave himself up to much striving and became an Arahant. SN.i.198f; SNa.i.223.
Kassapagotta 04. Một tỳ-kheo, có lẽ được xác định với một trong những vị đã nêu trước đó. Có lần ngài đang ở trong một khu rừng ở Kosala và, nhìn thấy một người thợ săn đang đuổi theo con hươu, ngài đã can thiệp và phản đối việc người đàn ông này kiếm sống bằng những phương tiện tàn nhẫn như vậy. Người thợ săn đã quá bận tâm đến con mồi của mình nên không chú ý nhiều đến những gì được nói. Một vị Deva của khu rừng đã đến gần vị tỳ-kheo và khuyên ngài không nên lãng phí thời gian để thuyết giáo cho một người nghe mà không hiểu những gì đang được nói. Kassapa đã được truyền cảm hứng và, theo phần Chú giải, ngài đã cống hiến hết mình cho nhiều nỗ lực và đắc quả vị Arahant. SN.i.198f; SNa.i.223.
05. Kassapagotta 05 draft
Kassapagotta 05. One of the monks who accompanied the Thera Majjhima on his journey to the country of the Himālaya for the purpose of converting it to Buddhism (Dpv.viii.10; Vin-a.i.68; Mbv.115; Mhvṭ.317).
In a relic-urn, found in Tope No.2 of Sāñchi group, were the ashes of this monk, where he is described as “Hemavatācariya.” Cunningham: Bhilsā Topes, 287.
Kassapagotta 05. Một trong số những tỳ-kheo đã đồng hành cùng Trưởng lão Majjhima trong chuyến du hành đến đất nước Himālaya với mục đích truyền bá Đạo Phật tại nơi này (Dpv.viii.10; Vin-a.i.68; Mbv.115; Mhvṭ.317).
Trong một bình xá-lợi, được tìm thấy ở Tope số 2 thuộc nhóm Sāñchi, có chứa tro cốt của vị tỳ-kheo này, trong đó ngài được mô tả là “Hemavatācariya.” Cunningham: Bhilsā Topes, 287.