Kuṇḍala Thera draft
Kuṇḍala Thera (v.l. Kuḷakuṇḍala Thera). An Arahant. He came of a Brahmin family of Sāvatthī and entered the Saṅgha, but from want of mental balance he could not concentrate his thoughts. Then, one day, while begging for alms, he saw how men conducted water whither they wished by digging channels, how the fletcher fixed the arrow shaft in his lathe surveying it from the corner of his eye, how the chariot-makers planed axle and tire and hub. Dwelling on these things, he soon attained Arahant-ship.
In the past he was a parkkeeper, and gave a coconut to Vipassī Buddha, which the Buddha accepted while travelling through the air (Thaga.i.71f).
Perhaps he is to be identified with Nāḷikeradāyaka Thera of the Apadāna (ii.447f). The same Apadāna verses, however, are also ascribed to Khitaka Thera (Thaga.i.315f).
The verse attributed to Kuṇḍala in the Theragāthā (Thag.19) occurs twice in the Dhammapada, and is in the Dhammapada Commentary mentioned as having been preached once in reference to Paṇḍita Sāmaṇera (Dhpa.ii.147), and once in reference to Sukha Sāmaṇera (Dhpa.iii.99).
Một vị Arahant. Ông xuất thân từ một gia đình Bà-la-môn ở Sāvatthī và gia nhập Tăng đoàn, nhưng vì thiếu sự cân bằng tâm trí nên ông không thể tập trung suy nghĩ. Rồi một ngày nọ, trong khi đang đi khất thực, ông đã nhìn thấy cách con người dẫn nước đến nơi họ muốn bằng cách đào các kênh rạch, cách người thợ làm mũi tên cố định cán mũi tên trên máy tiện của anh ta và quan sát nó từ khóe mắt, cách những người thợ làm xe ngựa bào nhẵn trục bánh xe, lốp và trục gầm. Tập trung vào những điều này, ông đã nhanh chóng đạt được quả vị Arahant.
Trong quá khứ ông là một người giữ công viên, và đã dâng một quả dừa cho Đức Phật Vipassī, Đức Phật đã nhận lấy khi đang du hành qua không trung (Thaga.i.71f).
Có lẽ ông được đồng nhất với Nāḷikeradāyaka Thera trong Apadāna (ii.447f). Tuy nhiên, các câu kệ tương tự của Apadāna cũng được cho là của Khitaka Thera (Thaga.i.315f).
Câu kệ được cho là của Kuṇḍala trong Theragāthā (Thag.19) xuất hiện hai lần trong Dhammapada, và trong Dhammapada Commentary được nhắc đến là đã được thuyết giảng một lần liên quan đến Sāmaṇera Paṇḍita (Dhpa.ii.147), và một lần liên quan đến Sāmaṇera Sukha (Dhpa.iii.99).