Mahā Abhaya redirect, draft

01. Mahā Abhaya 01 redirect

Redirect target: Abhayagiri,

Mahā Abhaya 01. See Abhayagiri.

Chưa dịch.

02. Mahā Abhaya 02 draft

Mahā Abhaya 02. A Thera. Usually called Dīghabhāṇaka Abhaya. He was evidently an eminent Thera. It is said that when news arrived that the brigand Abhaya was coming to Cetiyagiri to pillage it, the patrons of the vihāra informed Abhaya Thera of this (Vin-a.ii.474f.; referred to at Dhs-a.399). He asked them to collect various kinds of food and drink wherewith to entertain the brigand. The latter was greatly pleased, and, on learning that this hospitality was shown him at the instigation of Abhaya Thera, he visited the Elder and took upon himself the protection of the vihāra from all danger. Later the monks questioned the right of the Elder to entertain a robber with what belonged to the vihāra, but he convened an assembly of the monks and convinced them that he was guiltless, as his act had been solely for the protection of the belongings of the Saṅgha. This story shows that the Elder lived at Cetiyagiri.

On another occasion (MN­a.i.65f) Abhaya Thera preached the Mahā Ariyavaṁsa paṭipadā, and the whole village (? Mahā Gāma) came to hear him. After the sermon he received great honour. An elderly monk was full of envy and abused him, saying that under guise of preaching he had filled the night with noise. The two monks had to travel along the same road for the distance of a gāvuta, and all the way the old monk abused Abhaya. When their roads separated, Abhaya worshipped the monk and took leave of him and said, when asked later, that he had heard none of the abuse because he had been all the time engaged in meditation. One day, a certain woman who had come all the way from Ullabha Kolakaṇṇikā, a distance of five leagues, to hear Abhaya preach the Ariyavaṁsa, found that he was about to arise without finishing the sermon, and reminded him that he was omitting the most important part. The monk praised her and continued to preach till dawn, when the woman became a Sotāpanna (AN­a.i.386). It is said that once Abhaya wanted to know if a certain piṇḍapātika monk were a puthujjana or not. While this monk was bathing at the mouth of the Kalyāṇī River, Abhaya told a novice to dive into the water and catch hold of his foot. The monk, thinking it was a crocodile, screamed with fear, and Abhaya knew that he was a puthujjana (MN­a.ii.869). Thieves once bound an Elder with creepers and made him lie down. A jungle fire spread to him, but before the creepers could be cut, he established insight and died an Arahant. Abhaya, coming along with five hundred others, saw the body, cremated it, and had a shrine built over the remains (Vsm.36).

Abhaya’s opinion was evidently greatly respected, and he is mentioned as having been consulted by Mahā Dhammarakkhita (Vibh­a.81) and Mallaka (Vsm.266) on problems connected with the Abhidhamma.

Abhaya is mentioned among those who could remember very early incidents in their lives. When he was only nine days old, his mother bent down to embrace him, but her hair became loose and the sumana-flowers she wore on her head fell on him, hurting him. In later life he could remember this incident. DN­a.ii.530; MNid-a.234.

Mahā Abhaya 02. Một vị Thera. Thường được gọi là Dīghabhāṇaka Abhaya. Rõ ràng ngài là một vị Thera xuất chúng. Có nói rằng khi tin tức truyền đến rằng tên cướp Abhaya sắp đến Cetiyagiri để cướp phá, các thí chủ của vihāra đã thông báo cho Trưởng lão Abhaya về việc này (Vin-a.ii.474f.; được tham chiếu tại Dhs-a.399). Ngài yêu cầu họ thu thập các loại thức ăn và đồ uống để chiêu đãi tên cướp. Tên cướp vô cùng hài lòng, và, khi biết rằng sự hiếu khách này được dành cho mình theo sự xúi giục của Trưởng lão Abhaya, hắn đã đến thăm vị Trưởng lão và tự mình đảm nhận việc bảo vệ vihāra khỏi mọi hiểm nguy. Sau đó, các tỳ-kheo chất vấn về quyền của Trưởng lão khi dùng đồ đạc của vihāra để chiêu đãi một tên cướp, nhưng ngài đã triệu tập một hội đồng các tỳ-kheo và thuyết phục họ rằng ngài vô tội, vì hành động của ngài hoàn toàn chỉ để bảo vệ đồ đạc của Tăng đoàn. Câu chuyện này cho thấy vị Trưởng lão đã sống tại Cetiyagiri.

Vào một dịp khác (MN­a.i.65f), Trưởng lão Abhaya đã thuyết giảng paṭipadā Mahā Ariyavaṁsa, và cả làng (? Mahā Gāma) đã đến nghe ngài. Sau bài pháp, ngài nhận được sự tôn kính lớn. Một tỳ-kheo lớn tuổi đầy ghen tị và đã nhục mạ ngài, nói rằng dưới vỏ bọc thuyết pháp, ngài đã làm đêm tối tràn ngập tiếng ồn. Hai vị tỳ-kheo phải đi cùng một con đường trên một khoảng cách một gāvuta, và suốt quãng đường vị tỳ-kheo già nhục mạ Abhaya. Khi đường của họ rẽ đi hai hướng, Abhaya đảnh lễ vị tỳ-kheo và cáo từ ngài và, khi được hỏi sau này, ngài nói rằng ngài đã không nghe thấy lời nhục mạ nào vì ngài đã luôn chìm đắm trong thiền định suốt thời gian đó. Một ngày nọ, một người phụ nữ đã lặn lội suốt chặng đường từ Ullabha Kolakaṇṇikā, một khoảng cách năm do-tuần, để nghe Abhaya thuyết giảng Ariyavaṁsa, phát hiện ra rằng ngài chuẩn bị đứng lên mà chưa kết thúc bài pháp, và đã nhắc ngài rằng ngài đang bỏ sót phần quan trọng nhất. Vị tỳ-kheo khen ngợi bà và tiếp tục thuyết giảng cho đến tận bình minh, khi người phụ nữ trở thành một vị Sotāpanna (AN­a.i.386). Có nói rằng một lần nọ Abhaya muốn biết liệu một vị tỳ-kheo piṇḍapātika nào đó có phải là một puthujjana hay không. Trong khi vị tỳ-kheo này đang tắm ở cửa sông Kalyāṇī, Abhaya bảo một sa-di lặn xuống nước và nắm lấy chân của vị tỳ-kheo. Vị tỳ-kheo, tưởng đó là một con cá sấu, hét lên vì sợ hãi, và Abhaya biết rằng vị ấy là một puthujjana (MN­a.ii.869). Bọn trộm từng trói một vị Trưởng lão bằng dây leo và bắt ngài nằm xuống. Một ngọn lửa rừng cháy lan đến chỗ ngài, nhưng trước khi dây leo có thể bị đứt, ngài đã an trú tuệ quán và viên tịch như một vị Arahant. Abhaya, đi ngang qua cùng với năm trăm vị khác, nhìn thấy thi thể, đã hỏa táng nó, và sai xây dựng một tháp thờ trên hài cốt (Vsm.36).

Ý kiến của Abhaya rõ ràng rất được tôn trọng, và ngài được nhắc đến là đã được tham vấn bởi Mahā Dhammarakkhita (Vibh­a.81) và Mallaka (Vsm.266) về những vấn đề liên quan đến Abhidhamma.

Abhaya được nhắc đến trong số những người có thể nhớ được những sự kiện rất sớm trong cuộc đời họ. Khi ngài mới được chín ngày tuổi, mẹ ngài cúi xuống để ôm ngài, nhưng mái tóc của bà bị bung ra và những bông hoa sumana mà bà cài trên đầu rơi xuống người ngài, khiến ngài bị đau. Về sau trong đời ngài có thể nhớ được sự kiện này. DN­a.ii.530; MNid-a.234.

03. Mahā Abhaya 03 draft

Mahā Abhaya 03. A monk of Uddalokaka Vihāra. Ras.ii.1.f.

Mahā Abhaya 03. Một vị tỳ-kheo ở Uddalokaka Vihāra. Ras.ii.1.f.