Tambadāṭhika draft
Tambadāṭhika. A public executioner of Rājagaha. He had copper-coloured teeth and tawny skin, and his body was covered with scars. He wished to join a band of thieves, but, for some time, the ringleader refused to admit him on account of his inordinately cruel looks. In the end he was admitted; but when the thieves were captured and no one could be found willing to kill as many as five hundred of them, Tambadāṭhika agreed to do it for a reward, and slew all his colleagues. He was afterwards appointed public executioner and held the post for fifty-five years. When he became too old to behead a man with one blow, another was appointed in his place, and he was deprived of the four perquisites to which he had, for so many years, been entitled – old clothes, milk porridge made with fresh ghee, jasmine flowers, and perfumes.
On the day on which he was deposed from office, he gave orders for milk porridge to be cooked, and having bathed and decked himself out, he was about to eat, when Sāriputta, out of compassion for him, appeared at his door. Tambadāṭhika invited the Elder in and entertained him hospitably. When Sāriputta began the words of thanksgiving, his host could not concentrate his thoughts, being worried by memories of his past wickedness. Sāriputta consoled him by representing to him that he had merely carried out the king’s orders. At the end of the sermon, Tambadāṭhika developed the qualities necessary for becoming a Sotāpanna. When Sāriputta left, Tambadāṭhika accompanied him on his way, but on the way back he was gored to death by a cow.
The cow was a Yakkhinī who also killed: Pukkusāti, Bāhīya Dārucīriya, Suppabuddha (Dhpa.ii.35; Uda.289). The Buddha said he had been reborn in the Tusita world. Dhpa.ii.203ff.
Tambadāṭhika. Một đao phủ công khai của Rājagaha. Ông có hàm răng màu đồng và làn da ngăm đen, cùng một cơ thể đầy những vết sẹo. Ông muốn gia nhập một băng trộm cướp, nhưng trong một thời gian, tên cầm đầu từ chối không nhận ông do tướng mạo tàn ác quá mức của ông. Cuối cùng thì ông cũng được nhận; nhưng khi bọn cướp bị bắt giữ và không tìm được ai sẵn sàng chém đầu cả năm trăm tên cướp, Tambadāṭhika đồng ý làm việc đó để lấy phần thưởng, và hạ sát tất cả đồng bọn của mình. Sau đó ông được bổ nhiệm làm đao phủ công khai và giữ chức vụ này trong năm mươi lăm năm. Khi ông trở nên quá già không thể chém đầu một người chỉ với một nhát chém, một người khác được cử thay thế ông, và ông bị tước bốn đặc quyền mà ông đã được hưởng trong suốt bao năm qua – quần áo cũ, cháo sữa nấu với bơ tươi, hoa lài, và nước hoa.
Vào cái ngày ông bị phế truất, ông đã ra lệnh nấu cháo sữa, và sau khi tắm rửa sạch sẽ và trang điểm, ông sắp sửa thọ thực, thì Sāriputta, với lòng thương xót ông, xuất hiện trước cửa nhà. Tambadāṭhika thỉnh Trưởng lão vào trong và tiếp đãi ngài một cách hiếu khách. Khi Sāriputta bắt đầu tụng những lời phúc đáp, vị gia chủ không thể tập trung tư tưởng, bị quấy rầy bởi những ký ức về tội ác của mình trong quá khứ. Sāriputta an ủi ông bằng cách chỉ ra cho ông thấy rằng ông chỉ đơn thuần thực thi mệnh lệnh của nhà vua. Vào cuối bài thuyết pháp, Tambadāṭhika đã phát triển những phẩm chất cần thiết để trở thành một Sotāpanna. Khi Sāriputta rời đi, Tambadāṭhika đi tiễn ngài một đoạn đường, nhưng trên đường quay về, ông bị một con bò húc chết.
Con bò cái ấy là một Yakkhinī (dạ-xoa nữ) đã từng đoạt mạng: Pukkusāti, Bāhīya Dārucīriya, Suppabuddha (Dhpa.ii.35; Uda.289). Đức Phật cho biết ông đã tái sinh vào cõi Tusita. Dhpa.ii.203ff.