Bīraṇī draft
Bīraṇī. A goddess (devadhītā). She had a palace in the Cātummahārājika world which Nimi saw on his visit to heaven when he learnt her story from Mātali. In the time of Kassapa Buddha she had been a slave in a Brahmin’s house. The Brahmin, whose name was Asoka, invited eight monks to feed daily at his house and asked his wife to arrange to feed them at a cost of one kahāpaṇa each. This she refused to do as did also his daughters; but their slave agreed to carry out this work, and she did it most conscientiously and with great devotion. As a result she was reborn in heaven (Ja.vi.117f). Her palace was twelve leagues in height and one in extent; it possessed nine storeys and one thousand rooms. When Duṭṭhagāmaṇī wished to erect the Lohapāsāda, he asked the monks for a plan, and eight Arahants went to the Deva world and returned with a plan of Bīraṇī’s palace. Mhv.xxvii.9ff.
Một thiên nữ (devadhītā). Nàng có một cung điện ở cõi Cātummahārājika mà Nimi đã nhìn thấy trong chuyến viếng thăm thiên giới của ông khi ông biết được câu chuyện của nàng từ Mātali. Trong thời kỳ của Kassapa Buddha, nàng từng là một người hầu trong nhà của một vị Bà-la-môn. Vị Bà-la-môn, có tên là Asoka, đã mời tám vị tỳ-kheo đến thọ thực hàng ngày tại nhà ông và yêu cầu vợ ông sắp xếp để thiết đãi họ với chi phí là một kahāpaṇa cho mỗi người. Bà đã từ chối làm việc này cũng như các con gái của ông; nhưng người hầu của họ đã đồng ý thực hiện công việc này, và nàng đã làm điều đó một cách rất tận tâm và với lòng mộ đạo to lớn. Kết quả là nàng đã được tái sinh lên thiên giới (Ja.vi.117f). Cung điện của nàng cao mười hai do-tuần và rộng một do-tuần; nó có chín tầng và một ngàn phòng. Khi Duṭṭhagāmaṇī muốn dựng lên Lohapāsāda, ông đã thỉnh cầu các tỳ-kheo cho một bản thiết kế, và tám vị Arahant đã lên cõi chư thiên và trở về với một bản thiết kế cung điện của Bīraṇī. Mhv.xxvii.9ff.