Cittagutta draft
01. Cittagutta 01 draft
Cittagutta 01. Cittagutta Thera. An Arahant. He lived at the Bodhimaṇḍavihāra, and was present, with thirty thousand monks, at the foundation of the Mahā Thūpa. Mhv.xxxix.41; Dpv.xix.6.
Cittagutta 01. Trưởng lão Cittagutta. Một bậc Arahant. Ngài sống tại Bodhimaṇḍavihāra, và đã có mặt, cùng với ba mươi nghìn vị tỳ-kheo, tại lễ đặt nền móng cho Mahā Thūpa. Mhv.xxxix.41; Dpv.xix.6.
02. Cittagutta 02 draft
Cittagutta 02. An Elder living in the Kuraṇḍaka Cave. In the cave was a beautiful painting of the Renunciation of the Seven Buddhas, but he never saw it, though he lived there for sixty years. Three times the king sent for him, but he refused to go until the king decreed that no infant in the country should suck milk until the Elder should visit the palace. He dwelt in the palace for seven days and always pronounced the same blessing, no matter who saluted him: “May the king be happy.” On the Elder’s return to the cave, the deity in the ironwood tree outside stood holding a torch and the Elder attained Arahant-ship (Vsm.38). It may be the same Elder who is mentioned elsewhere (Vsm.171) as having developed tejokasiṇa on regarding the flame of a lamp on his return to the vihāra after listening to the Dhamma, and again pītakasiṇa when he saw on Cittalapabbata a seat spread with pattaṅga-flowers (Vsm.173).
Cittagutta 02. Một vị Trưởng lão sống trong Hang Kuraṇḍaka. Trong hang có một bức bích họa tuyệt đẹp về sự Đại xuất gia của Bảy Vị Phật, nhưng ngài chưa bao giờ nhìn thấy nó, mặc dù ngài đã sống ở đó sáu mươi năm. Ba lần nhà vua sai người đến mời ngài, nhưng ngài từ chối đi cho đến khi nhà vua ban chiếu chỉ rằng không một đứa trẻ sơ sinh nào trong nước được bú sữa cho đến khi Trưởng lão đến thăm cung điện. Ngài đã cư ngụ trong cung điện trong bảy ngày và luôn nói cùng một lời chúc phúc, bất kể ai chào ngài: "Cầu cho nhà vua được an vui." Khi Trưởng lão trở lại hang động, vị chư thiên ở cây thiết mộc bên ngoài đứng cầm một ngọn đuốc và Trưởng lão đã chứng đắc quả vị Arahant (Vsm.38). Đây có thể là cùng một vị Trưởng lão được đề cập ở nơi khác (Vsm.171), người đã phát triển tejokasiṇa khi nhìn ngọn lửa của một cây đèn vào lúc trở về vihāra sau khi nghe Pháp, và một lần nữa phát triển pītakasiṇa khi nhìn thấy trên Cittalapabbata một chỗ ngồi trải đầy hoa pattaṅga (Vsm.173).
03. Cittagutta 03 draft
Cittagutta 03. An Arahant. He lived in Ambapāsāṇa, in the village of Aṅganakola. He was a fluent speaker, and while yet a puthujjana, preached the Rathavinītasutta at the Lohapāsāda to a gathering of twelve thousand monks and nuns. In his explanation he referred to the glories of the Relic Chamber in the Mahā Thūpa. Though he described them in great detail, yet the Elder Mahā Tissa, teacher of Asathakammikatissa, being present, told him that his description was incomplete (Mhvṭ.552f). The story is told to indicate the magnitude of the glories of the Relic Chamber.
Cittagutta 03. Một bậc Arahant. Ngài sống ở Ambapāsāṇa, trong ngôi làng Aṅganakola. Ngài là một diễn giả lưu loát, và khi còn là một phàm phu, ngài đã thuyết giảng Rathavinītasutta tại Lohapāsāda cho một hội chúng gồm mười hai nghìn vị tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni. Trong phần giải thích của mình, ngài đã nhắc đến sự huy hoàng của Phòng Tôn trí Xá-lợi trong Mahā Thūpa. Mặc dù ngài đã mô tả chúng rất chi tiết, nhưng Trưởng lão Mahā Tissa, thầy của Asathakammikatissa, đang có mặt ở đó, đã nói với ngài rằng phần mô tả của ngài vẫn chưa đầy đủ (Mhvṭ.552f). Câu chuyện được kể lại để cho thấy mức độ huy hoàng của Phòng Tôn trí Xá-lợi.