Kuṭumbiyaputtatissa draft
1. Kuṭumbiyaputtatissa draft
Kuṭumbiyaputtatissa. An Arahant. He lived in Piyaṅgudīpa. Duṭṭhagāmaṇī, fleeing from the battle at Cūḷaṅganiyapiṭṭhi, wished to give a share of his food to a monk before sitting down to eat. When the meal-time was announced, the Thera Gotama, hearing it with his divine ear, sent Kuṭumbiyaputta to receive the share set apart for the brotherhood (Mhv.xxiv.22ff; xxxii.31f). It transpired later that the food so received was divided by Kuṭumbiyaputta among twelve thousand monks in Piyaṅgudīpa. Mhv.xxxii.55; Mhvṭ.598.
See also Bodhimātu Mahā Tissa.
Một Arahant. Ngài sống ở Piyaṅgudīpa. Duṭṭhagāmaṇī, khi chạy trốn khỏi trận chiến ở Cūḷaṅganiyapiṭṭhi, mong muốn cúng dường một phần thức ăn của ngài cho một vị tỳ-kheo trước khi ngồi xuống thọ thực. Khi giờ thọ thực được thông báo, Trưởng lão Gotama, nghe thấy nó nhờ thiên nhĩ thông của ngài, đã phái Kuṭumbiyaputta đến để nhận phần được dành riêng cho Tăng chúng (Mhv.xxiv.22ff; xxxii.31f). Về sau người ta mới biết rằng số thức ăn nhận được đó đã được Kuṭumbiyaputta chia cho mười hai nghìn tỳ-kheo ở Piyaṅgudīpa. Mhv.xxxii.55; Mhvṭ.598.
Xem thêm Bodhimātu Mahā Tissa.
2. Kuṭumbiyaputtatissa draft
Kuṭumbiyaputtatissa. He once went to Jetavana with twenty-nine of his friends from Sāvatthī to make offerings to the Buddha. Having heard the Buddha’s preaching, they all became monks. After five years’ residence with their teachers, they wished to retire into solitude and obtained from the Buddha topics for their meditations. While on the way to the forest, Kuṭumbiyaputtatissa weakened in his determination and turned back. When the rains were over, the others, having won Arahant-ship, returned and reported their various attainments to the Buddha. Kuṭumbiyaputta heard the Buddha praise them, and made up his mind to follow their example and so to go back with them the next day to the forest. That same night, however, filled with a yearning not to delay in beginning his austerities, he slept in an upright posture; but in the middle of the night he fell down and broke his thighbone. This accident delayed the departure of the other monks, and the Buddha, hearing of it, blamed Tissa for his unseasonable zeal and related the Varaṇajātaka (Ja 71), showing how, in the past too, he had behaved similarly (Ja.i.316f).
The Commentaries lead us to believe that Kuṭumbiyaputta did ultimately attain Arahant-ship, for he is mentioned several times with Pītimalla and others as an example of one who put forth great exertion while suffering severe pain, in order to win his goal (e.g., SNa.ii.216; ANa.i.29; see also Padhānakammikatissa).
Ngài có lần đi đến Jetavana cùng với hai mươi chín người bạn của mình từ Sāvatthī để cúng dường cho Đức Phật. Sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp, tất cả họ đều trở thành tỳ-kheo. Sau năm năm lưu trú cùng với các thầy của họ, họ mong muốn rút lui vào nơi thanh vắng và đã nhận từ Đức Phật các đề mục cho các buổi thiền định của họ. Trong lúc đang trên đường vào rừng, Kuṭumbiyaputtatissa trở nên yếu kém trong quyết tâm của ngài và đã quay trở lại. Khi mùa mưa kết thúc, những người khác, sau khi chứng đắc quả vị Arahant, đã quay về và báo cáo những thành tựu khác nhau của họ cho Đức Phật. Kuṭumbiyaputta nghe Đức Phật ca ngợi họ, và đã quyết tâm noi gương họ và thế là ngày hôm sau ngài quay trở lại rừng cùng với họ. Tuy nhiên, cùng đêm đó, tràn ngập mong mỏi không trì hoãn trong việc bắt đầu những khổ hạnh của mình, ngài đã ngủ trong tư thế ngồi thẳng; nhưng vào nửa đêm ngài đã ngã xuống và bị gãy xương đùi. Tai nạn này đã trì hoãn sự khởi hành của các tỳ-kheo khác, và Đức Phật, khi nghe về sự việc, đã khiển trách Tissa vì lòng nhiệt thành không đúng lúc của ngài và kể lại câu chuyện Varaṇajātaka (Ja 71), cho thấy trong quá khứ ngài cũng từng hành xử tương tự như thế nào (Ja.i.316f).
Các Chú giải khiến chúng ta tin rằng Kuṭumbiyaputta cuối cùng đã đạt được quả vị Arahant, vì ngài được đề cập nhiều lần cùng với Pītimalla và những người khác như một tấm gương về một người đã dốc sức nỗ lực trong khi chịu đựng đau đớn dữ dội, để đạt được mục tiêu của mình (ví dụ, SNa.ii.216; ANa.i.29; xem thêm Padhānakammikatissa).