Bījaka draft

01. Bījaka 01 draft

Bījaka 01. A slave of Videha, present when the ascetic Guṇa expounded his doctrine to King Aṅgati, and it was approved by Alāta. Bījaka also agreed that Guṇa’s teaching accorded with his own experience. He remembered his previous life, when he had been born as Bhāvaseṭṭhi of Sāketa and had done many acts of virtue and piety. But at present he was the son of a poor prostitute leading a wretched life. Even so, he always gave half his food to any who might desire it, kept the fast, and led, in every way, a virtuous life. But virtue, he said, was useless; it bore no fruit. So saying, he wept. When Rujā (q.v.) heard this, she said that Bījaka’s sufferings were due to evil actions done in the past in earlier lives (Ja.vi.227, 228, 229, 233, 235).

The scholiast explains (Ja.vi.228) that in the time of Kassapa Buddha, while Bījaka was seeking a lost ox, a monk enquired of him the way which he had lost. Bījaka was angry and abused the monk, calling him a slave. His birth as Bhāvaseṭṭhi was due to some earlier good done by him, but in this birth he became a slave.

Bījaka is identified with Moggallāna (Ja.vi.225).

Bījaka 01. Một nô lệ của Videha, có mặt khi đạo sĩ Guṇa giảng giải học thuyết của mình cho vua Aṅgati, và nó được Alāta tán thành. Bījaka cũng đồng ý rằng lời dạy của Guṇa phù hợp với kinh nghiệm của bản thân. Anh ta nhớ lại kiếp trước của mình, khi anh ta được sinh ra làm Bhāvaseṭṭhi của Sāketa và đã làm nhiều hành động đạo đức và đức hạnh. Nhưng ở hiện tại anh ta là con trai của một kỹ nữ nghèo và sống một cuộc đời khốn khổ. Dù vậy, anh luôn chia một nửa thức ăn của mình cho bất cứ ai cần đến, thọ trì trai giới, và sống một đời sống đạo đức về mọi mặt. Nhưng đạo đức, anh nói, là vô ích; nó không mang lại quả báo nào. Nói rồi, anh bật khóc. Khi Rujā (q.v.) nghe điều này, cô nói rằng những đau khổ của Bījaka là do những ác nghiệp đã làm trong quá khứ ở các kiếp trước (Ja.vi.227, 228, 229, 233, 235).

Nhà chú giải giải thích (Ja.vi.228) rằng vào thời của Kassapa Buddha, trong lúc Bījaka đang đi tìm một con bò bị lạc, một vị tỳ-kheo đã hỏi anh về đường đi mà vị ấy đã bị lạc. Bījaka tức giận và lăng mạ vị tỳ-kheo, gọi vị ấy là nô lệ. Sự tái sinh làm Bhāvaseṭṭhi của anh là nhờ vào một vài điều thiện lành mà anh đã làm trước đó, nhưng trong kiếp này anh lại trở thành một nô lệ.

Bījaka được đồng nhất với Moggallāna (Ja.vi.225).

02. Bījaka 02 draft

Bījaka 02. The son of Sudinna Kalandakaputta by the wife of his lay days. He was conceived after Sudinna had already been ordained. His wife came to him during her period and begged him to give her an offspring (bījaka). As the rule against unchastity had not then been promulgated, Sudinna yielded to her importunities, thus giving rise to the first Pārājikā ruling. The son was called Bījaka, and so Sudinna came to be called Bījakapitā and the mother Bījakamātā. Both Bījaka and his mother later left the world and became Arahants. Vin.iii.17-19; Vin-a.i.215f.

Bījaka 02. Con trai của Sudinna Kalandakaputta với người vợ trong những ngày còn là cư sĩ của ông. Cậu được thụ thai sau khi Sudinna đã xuất gia. Vợ của ông đã đến gặp ông trong kỳ kinh nguyệt của cô ấy và cầu xin ông ban cho một đứa con (bījaka). Vì giới luật cấm hành dâm khi đó chưa được ban hành, Sudinna đã nhượng bộ trước những lời nài nỉ của cô, qua đó dẫn đến việc ra đời giới luật Pārājikā đầu tiên. Đứa con trai được gọi là Bījaka, và do đó Sudinna được gọi là Bījakapitā và người mẹ là Bījakamātā. Về sau cả Bījaka và mẹ của cậu đều xuất gia và trở thành những Arahant. Vin.iii.17-19; Vin-a.i.215f.