Itivuttaka draft
Itivuttaka. The fourth book of the Khuddakanikāya, containing 110 Suttas, each of which begins with the words: vuttaṁ h’etaṁ Bhagavatā, this was spoken by the Bhagavā.
According to Dhammapāla (Iti-a.24ff), the Suttas were preached from time to time by the Buddha to Khujjuttarā at Kosambī. She then repeated them to the five hundred women of Udena’s palace, chief of whom was Sāmāvatī. In order to emphasise to her audience the fact that she was reporting the Buddha’s words and not her own, she prefaced each Sutta with the phrase quoted above. There was no need to describe any special circumstances in which the Suttas were preached, because they were familiar to Khujjuttarā’s audience.
At the Rājagaha Council, Ānanda repeated the Suttas to the Assembly and they were gathered into this collection.
Itivuttaka is also the name given to one of the nine divisions (aṅga) into which the Buddha’s preaching is divided and it is defined as follows: vuttaṁ h’etaṁ Bhagavatā ti ādinayappavattā dasuttarasataṁ suttantā Itivuttakam ti veditabbaṁ (DNa.i.24).
In the scholiast of the Kummāsapiṇḍajātaka (Ja 415, Ja.iii.409; l.21), the Itivuttaka is mentioned in the plural (Itivuttakesu) and a Sutta is quoted from it, extolling the virtues of generosity. Perhaps, the Itivuttaka was compiled as a result of a critical study of the authentic teachings of the Buddha, considered in a certain light and made for a specific purpose.
Itivuttaka. Cuốn sách thứ tư của Khuddakanikāya, chứa đựng 110 bài Sutta, mỗi bài bắt đầu bằng những từ: vuttaṁ h’etaṁ Bhagavatā, điều này đã được Bhagavā nói.
Theo Dhammapāla (Iti-a.24ff), các bài Sutta được Đức Phật thuyết vào những thời điểm khác nhau cho Khujjuttarā tại Kosambī. Sau đó cô thuật lại chúng cho năm trăm người phụ nữ trong cung điện của Udena, đứng đầu trong số họ là Sāmāvatī. Để nhấn mạnh với khán giả của mình về việc cô đang tường thuật lại lời của Đức Phật chứ không phải của chính mình, cô đã mở đầu mỗi bài Sutta bằng cụm từ được trích dẫn ở trên. Không cần thiết phải mô tả bất kỳ hoàn cảnh đặc biệt nào mà trong đó các bài Sutta này đã được thuyết, bởi vì khán giả của Khujjuttarā đều quen thuộc với chúng.
Tại Kỳ kết tập Rājagaha, Ānanda đã trùng tuyên lại những bài Sutta này trước Hội chúng và chúng đã được tập hợp vào bộ sưu tập này.
Itivuttaka cũng là tên được đặt cho một trong chín phần (aṅga) mà những lời giáo huấn của Đức Phật được chia ra và nó được định nghĩa như sau: vuttaṁ h’etaṁ Bhagavatā ti ādinayappavattā dasuttarasataṁ suttantā Itivuttakam ti veditabbaṁ (DNa.i.24).
Trong phần bình giải của Kummāsapiṇḍajātaka (Ja 415, Ja.iii.409; l.21), Itivuttaka được nhắc đến ở dạng số nhiều (Itivuttakesu) và một bài Sutta được trích dẫn từ nó, tán dương những phẩm chất của sự hào phóng. Có lẽ, Itivuttaka đã được biên soạn như là kết quả của một nghiên cứu phản biện về những giáo lý đích thực của Đức Phật, được xem xét dưới một góc độ nhất định và được thực hiện vì một mục đích cụ thể.