Mahā Saṅghikā draft

Mahā Saṅghikā, Mahā Sangītikā. One of the Buddhist schools which separated out from the Theravādins at the Second Council. The members rejected the Parivāra, the Abhidhamma, the Paṭisambhidāmagga, the Niddesa and some portions of the Jātakas (Kv-a.p.4; Dpv.v.32ff).

The school was so-called owing to the great number of its followers, which made a great assembly or “Mahā Sangīti.” They were counted among the Anātmavādīs, and later gave rise to the following schools: the Mahā Saṅghika, Pubbasela, Aparasela, Rājagiriyā, Hemavatas, Cetiyavādins, Saṅkantivādins and Gokulikas. Originally they had only two divisions the Ekabbohārikas and Gokulikas (Rockhill, op.cit., 182ff).

Their separation from the orthodox school was brought about by the Vajjiputta monks, and was probably due to difference of opinion on the ten points (for these see Vin.ii.294f) held by the Vajjiputta monks. According to Northern sources, however, the split occurred on the five points raised by Mahā Deva:

  • (1) An Arahant may commit a sin under unconscious temptation;
  • (2) one may be an Arahant and unconscious of the fact;
  • (3) an Arahant may have doubts on matters of doctrine;
  • (4) one cannot attain Arahant-ship without the help of a teacher;
  • (5) the “Noble Way” may begin with some such exclamation as “How sad!” uttered during meditation (JRAS. 1910, p. 416; cf. Mhv­ṭ 173).

These articles of faith are found in the Kathāvatthu, attributed to the Pubbaselas and the Aparaselas, opponents of the Mahā Saṅghika school (173ff., 187ff., 194, 197).

According to Xuanzang (Beal-Xuan.ii.164), the Mahā Saṅghikas divided their canon into five parts: Sūtra, Vinaya, Abhidhamma, Miscellaneous and Dhāraṇī. Faxian took from Pāṭaliputta to China a complete transcript of the Mahā Saṅghika Vinaya. (Giles, p. 64, Nañjio’s Catalogue mentions a Mahā Saṅghika Vinaya and a Mahā Saṅgha Bhikṣuṇī Vinaya in Chinese translations, Coḷa. 247, 253. Ms. No.543).

The best known work of the Mahā Saṅghikas is the Mahā Vastu. Their headquarters in Ceylon were in Abhayagirivihāra, and Sena I. is said to have built the Vīraṅkurārāma for their use. Cv.1.68.

Mahā Saṅghikā, Mahā Sangītikā. Một trong những tông phái Phật giáo đã tách ra khỏi các vị Theravādin tại Kỳ Kết Tập thứ Hai. Các thành viên đã từ chối Parivāra, Abhidhamma, Paṭisambhidāmagga, Niddesa và một vài phần của các Jātaka (Kv-a.p.4; Dpv.v.32ff).

Tông phái được gọi như vậy là do số lượng lớn tín đồ của nó, điều đã tạo nên một hội chúng lớn hay “Mahā Sangīti”. Họ được xếp vào nhóm Anātmavādīs, và về sau đã sinh ra các tông phái sau đây: Mahā Saṅghika, Pubbasela, Aparasela, Rājagiriyā, Hemavatas, Cetiyavādins, Saṅkantivādins và Gokulikas. Ban đầu họ chỉ có hai chi phái là Ekabbohārikas và Gokulikas (Rockhill, op.cit., 182ff).

Sự tách rời của họ khỏi tông phái chính thống được gây ra bởi các tỳ-kheo Vajjiputta, và có lẽ là do sự bất đồng ý kiến về mười điểm (về những điểm này xem Vin.ii.294f) được ủng hộ bởi các tỳ-kheo Vajjiputta. Tuy nhiên, theo các nguồn tài liệu phương Bắc, sự chia rẽ xảy ra dựa trên năm điểm do Mahā Deva đưa ra:

  • (1) Một vị Arahant có thể phạm tội dưới sự cám dỗ trong vô thức;
  • (2) một người có thể là một vị Arahant mà không nhận thức được sự thật đó;
  • (3) một vị Arahant có thể có những nghi ngờ về các vấn đề giáo lý;
  • (4) một người không thể chứng đạt quả vị Arahant nếu không có sự trợ giúp của một người thầy;
  • (5) “Thánh Đạo” có thể bắt đầu bằng một vài tiếng thốt lên như “Thật buồn!” được thốt ra trong lúc thiền định (JRAS. 1910, p. 416; đối chiếu Mhv­ṭ 173).

Những tín điều này được tìm thấy trong Kathāvatthu, được cho là của Pubbaselas và Aparaselas, những đối thủ của tông phái Mahā Saṅghika (173ff., 187ff., 194, 197).

Theo Huyền Trang (Beal-Xuan.ii.164), các vị Mahā Saṅghikas đã chia tạng kinh của họ thành năm phần: Sūtra, Vinaya, Abhidhamma, MiscellaneousDhāraṇī. Pháp Hiển đã mang từ Pāṭaliputta đến Trung Quốc một bản sao chép đầy đủ về Vinaya của Mahā Saṅghika. (Giles, p. 64, Danh mục của Nañjio đề cập đến một bản dịch Vinaya của Mahā Saṅghika và một bản dịch Mahā Saṅgha Bhikṣuṇī Vinaya sang tiếng Hán, Coḷa. 247, 253. Bản thảo số 543).

Tác phẩm được biết đến nhiều nhất của những vị Mahā Saṅghikas là Mahā Vastu. Trụ sở chính của họ ở Tích Lan là tại Abhayagirivihāra, và Sena I. được cho là đã xây dựng Vīraṅkurārāma cho việc sử dụng của họ. Cv.1.68.