Munisutta draft
Munisutta. The twelfth Sutta of the Suttanipāta (Snp., pp. 35-8). It defines the muni as one who lives the homeless life, free of encumbrances, devoid of strife and covetousness, firm, self-restrained, thoughtful, and delighting in meditation. He has overcome all obstacles and knows all things. He is as different from a householder as a peacock from a fast-flying goose. According to the Commentary (Snpa.i.254 t) the Sutta is a composite one made up of stanzas preached on various occasions; thus, the first four verses had reference to a mother and a son who joined the Saṅgha, met frequently, and, owing to their affection for each other, fell into sin (cp. Mātuputtikasutta). The fifth was in reference to Upaka’s attainment of anāgāmiphala; the sixth to Khadiravaniya Revata; the seventh was preached to Suddhodana to explain why the Buddha had renounced his luxuries. The ninth was in reference to Ciñcā’s attempt to malign the Buddha; the tenth was preached to the daughter of a Sāvatthī seṭṭhi. Seeing a weaver’s spindle and reflecting on it, she realized the crookedness of beings and was disgusted with the worldly life. The Buddha, reading her thoughts, appeared before her in a ray of light and preached to her. The eleventh was preached to the seven-year old daughter of a weaver of Āḷavi, who became a Sotāpanna and died soon after (See Dhpa.iii.170ff). The twelfth was preached to the Brahmin Pañcaggadāyaka; and the thirteenth was in reference to a treasurer of Sāvatthī who joined the Saṅgha and left it three times, on the fourth time of joining he became an Arahant. The fourteenth was in reference to the Buddha’s cousin Nanda, who was being teased by the monks even after he had attained Arahant-ship. The last was in defence of a monk for whom a hunter conceived a friendship, providing him with alms; the monk was a forest dweller, and men blamed him saying that he told the hunter of the animals’ haunts.
Munisutta. Sutta thứ mười hai của Suttanipāta (Snp., pp. 35-8). Nó định nghĩa muni (người trầm lặng) là người sống cuộc sống không nhà, thoát khỏi những gánh nặng, không có tranh chấp và tham lam, vững vàng, tự kiềm chế, suy tư, và thích thú trong thiền định. Vị ấy đã vượt qua mọi chướng ngại và biết mọi thứ. Vị ấy khác biệt với một người gia chủ cũng giống như một con công khác với một con ngỗng bay nhanh. Theo Chú giải (Snpa.i.254 t), Sutta là một tác phẩm tổng hợp được tạo thành từ các bài kệ được thuyết giảng vào những dịp khác nhau; vì vậy, bốn bài kệ đầu tiên đề cập đến một người mẹ và một người con trai đã gia nhập Tăng đoàn, thường xuyên gặp gỡ nhau, và do tình cảm dành cho nhau, đã rơi vào tội lỗi (so sánh Mātuputtikasutta). Bài kệ thứ năm liên quan đến việc Upaka đạt được anāgāmiphala (quả A-na-hàm); bài thứ sáu liên quan đến Khadiravaniya Revata; bài thứ bảy được thuyết cho Suddhodana để giải thích lý do tại sao Đức Phật đã từ bỏ sự xa hoa của mình. Bài thứ chín liên quan đến nỗ lực của Ciñcā nhằm vu khống Đức Phật; bài thứ mười được thuyết cho con gái của một seṭṭhi ở Sāvatthī. Nhìn thấy thoi dệt của một thợ dệt và suy ngẫm về nó, cô đã nhận ra sự quanh co của chúng sinh và cảm thấy chán ghét cuộc sống trần tục. Đức Phật, đọc được suy nghĩ của cô, đã xuất hiện trước mặt cô trong một tia sáng và thuyết pháp cho cô. Bài kệ thứ mười một được thuyết cho cô con gái bảy tuổi của một thợ dệt ở Āḷavi, cô bé đã trở thành một Sotāpanna và qua đời ngay sau đó (Xem Dhpa.iii.170ff). Bài kệ thứ mười hai được thuyết cho Bà-la-môn Pañcaggadāyaka; và bài thứ mười ba liên quan đến một thủ quỹ của Sāvatthī, người đã gia nhập Tăng đoàn và rời khỏi đó ba lần, trong lần gia nhập thứ tư, ông đã trở thành một Arahant. Bài kệ thứ mười bốn liên quan đến người anh em họ của Đức Phật là Nanda, người đang bị các tỳ-kheo trêu chọc ngay cả sau khi ông đã đạt được quả vị Arahant. Bài cuối cùng là để bảo vệ một tỳ-kheo mà một người thợ săn đã nảy sinh tình bạn, cung cấp đồ khất thực cho vị ấy; vị tỳ-kheo là một người sống trong rừng, và mọi người chê trách vị ấy, nói rằng vị ấy đã chỉ cho người thợ săn biết những nơi ẩn náu của các loài động vật.