Vajjiputta Thera draft
01. Vajjiputta Thera 01 draft
Vajjiputta Thera 01. He belonged to the family of a minister of Vesālī, and, seeing the majesty of the Buddha who visited the city, he joined the Saṅgha and lived in a wood near by. A festival took place in Vesālī, with much singing and dancing and gaiety. This distracted Vajjiputta, and he expressed his disgust in a verse spoken in scorn of the forest life. A woodland sprite heard him and upbraided him, saying, “Though you spurn life in the forest, the wise, desiring solitude, think much of it,” and she then uttered a verse praising it. This verse, which the monk afterwards repeated, is included in Thag.vs.62. Urged on by the sprite’s words, Vajjiputta developed insight and became an Arahant.
Ninety-one kappas ago he had been a householder and had paid homage to Vipassī Buddha, with pollen from nāga-flowers. Forty-five kappas ago he was a king, named Reṇu. Thaga.i.142f. Vajjiputta’s story is given very briefly in SN.i.201f. Vajjiputta’s story is also given in the Dhammapada Commentary There he is called a rājā, and is said to have renounced his kingdom when his turn came to rule. On the day of the festival, on the full moon day of Kattika, he was filled with discontent. After his conversation with the woodland sprite, he sought the Buddha, who preached to him. He attained Arahant-ship at the end of the Buddha’s sermon. Dhpa.iii.460f.; see also SNa.i.228, where also he is called rājā. There may be some confusion between Vajjiputta (1) and (2). He is evidently to be identified with Reṇupūjaka of the Apadāna. Ap.i.146.
Vajjiputta Thera 01. Ông thuộc gia đình của một quan đại thần ở Vesālī, và khi thấy oai nghi của Đức Phật trong chuyến viếng thăm thành phố, ông gia nhập Tăng đoàn và sống trong một khu rừng gần đó. Một lễ hội diễn ra ở Vesālī với nhiều tiếng ca hát, múa nhảy và vui vẻ. Điều này làm Vajjiputta phân tâm, và ông thốt ra một bài kệ khinh thường đời sống trong rừng. Một thần cây trong rừng nghe thấy và quở trách ông, nói rằng: "Dù ngươi khinh thường đời sống trong rừng, các bậc hiền trí, mong muốn sự tịch mịch, lại xem trọng nó nhiều", và thần cây liền đọc một bài kệ ca ngợi đời sống ấy. Bài kệ này, mà vị tỳ-kheo sau đó đã đọc lại, được ghi trong Thag.vs.62. Được thôi thúc bởi lời của thần cây, Vajjiputta phát triển tuệ quán và trở thành Arahant.
Chín mươi mốt kappa trước, ông đã là một cư sĩ và đã đảnh lễ Vipassī Buddha bằng phấn hoa từ những bông hoa nāga. Bốn mươi lăm kappa trước, ông là một vị vua tên là Reṇu. Thaga.i.142f. Câu chuyện của Vajjiputta được kể rất vắn tắt trong SN.i.201f. Câu chuyện của Vajjiputta cũng được kể trong Dhammapada Commentary. Ở đó ông được gọi là rājā, và được nói là đã từ bỏ vương quốc khi đến lượt ông trị vì. Vào ngày lễ hội, ngày trăng tròn của Kattika, ông tràn đầy bất mãn. Sau cuộc đối thoại với thần cây, ông đi tìm Đức Phật, Đức Phật thuyết pháp cho ông. Ông đắc quả vị Arahant khi Đức Phật kết thúc bài pháp. Dhpa.iii.460f.; see also SNa.i.228, nơi ông cũng được gọi là rājā. Có thể có sự nhầm lẫn giữa Vajjiputta (1) và (2). Ông rõ ràng được đồng nhất với Reṇupūjaka trong Apadāna. Ap.i.146.
02. Vajjiputta Thera 02 draft
Vajjiputta Thera 02. He belonged to a Licchavī rājā’s family, and while still young, and learning various arts, such as training elephants, he was filled with the desire for renunciation. One day he went to a vihāra where the Buddha was preaching, entered the Saṅgha, and not long after became an Arahant.
After the Buddha’s death, when the chief Elders were living in various places prior to their agreed meeting for the recital of the Dhamma, he saw Ānanda, still a learner (sekha), teaching the Dhamma to a large assembly. Wishing to urge him to higher attainment, Vajjiputta uttered a verse, and this verse was among those which led to Ānanda’s attainment of Arahant-ship. The verse is found in Thag.vs.119. In SN.i.199 the verse is attributed to a forest Deva who wished to agitate Ānanda. In Rockhill (op.cit., 155f.), Vajjiputta was Ānanda’s attendant at the time and preached to the people while Ānanda meditated.
Ninety-four kappas ago, Vajjiputta had seen a Pacceka Buddha begging for alms and had given him plantain fruits. Thaga.i.236f.
Vajjiputta Thera 02. Ông thuộc dòng tộc của một vị rājā Licchavī, và khi còn trẻ đang học nhiều nghệ thuật khác nhau, như thuần phục voi, ông tràn đầy ý chí xuất ly. Một ngày ông đến một vihāra nơi Đức Phật đang thuyết pháp, gia nhập Tăng đoàn, và không lâu sau trở thành Arahant.
Sau khi Đức Phật viên tịch, khi các vị Trưởng lão hàng đầu đang lưu trú ở các nơi khác nhau trước khi họ nhóm họp theo thỏa thuận để trùng tụng Pháp, ông thấy Ānanda, vẫn còn là bậc hữu học (sekha), đang dạy Pháp cho một đại chúng đông đảo. Muốn thúc đẩy Ānanda đạt đến mức độ cao hơn, Vajjiputta đọc một bài kệ, và bài kệ này là một trong những bài kệ dẫn đến sự chứng đắc quả vị Arahant của Ānanda. Bài kệ được tìm thấy trong Thag.vs.119. Trong SN.i.199, bài kệ được gán cho một Deva sống trong rừng muốn kích động Ānanda. Trong Rockhill (op.cit., 155f.), Vajjiputta là thị giả của Ānanda lúc đó và thuyết pháp cho dân chúng trong khi Ānanda thiền định.
Chín mươi tư kappa trước, Vajjiputta đã thấy một Pacceka Buddha đang đi khất thực và đã cúng dường cho Ngài những quả chuối. Thaga.i.236f.