Makkhali Gosāla draft

Makkhali Gosāla. One of the six heretical teachers contemporaneous with the Buddha. He held that there is no cause, either ultimate or remote, for the depravity of beings or for their rectitude. DN.i.53 f.

Makkhali, his views and his followers are also referred to at MN.i.231, 238, 483, 516f.; SN.i.66, 68; iii.211; iv.398; AN.i.33f., 286; iii.276, 384; also Ja.i.493, 509; SN.iii.69 ascribes the first portion of the account of Makkhali’s views (as given in DN.i.53) that there is no cause, no reason for depravity or purity to Pūraṇa Kassapa. AN.i.286 apparently confounds Makkhali with Ajita Kesakambala, and AN.iii.383f. represents Pūraṇa Kassapa as though he were a disciple of Makkhali.

The attainment of any given condition or character does not depend either on one’s own acts, nor on the acts of another, nor on human effort. There is no such thing as power or energy or human strength or human vigour. All beings (sattā), all lives (pāṇā), all existent things (bhūtā), all living substances (jīvā), are bent this way and that by their fate, by the necessary conditions of the class to which they belong, by their individual nature; it is according to their position in one or other of the six classes (abhijāti) that they experience ease or pain.

Buddhaghosa (DN­a.i.160 ff.) gives details of these four classes showing how they are meant to include all that has life on this earth, from men down to plants. But the explanation is very confused and makes the terms by no means mutually exclusive.

There are fourteen hundred thousands of principle genera or species (pamukhayoniyo), again six thousand others and again six hundred. There are five hundred kinds of kamma – there are sixty-two paths (or modes of conduct), sixty-two periods, six classes among men, eight stages of a prophet’s existence (atthapurisabhūmi), forty-nine hundred kinds of occupation, forty-nine hundred Ājīvakas, forty-nine hundred Wanderers (Paribbājaka), forty-nine hundred Nāga abodes (or species), two thousand sentient existences (vīse indriyasate), three thousand infernal states, thirty-six celestial, mundane or passionate grades (rajodhātuyo), seven classes of animate beings (saññigabbhā), or beings with the capacity of generating by means of separate sexes, seven of inanimate production (asaññigabbhā), seven of production by grafting (nigaṇṭhagabbhā), seven grades of gods, men, devils, great lakes, precipices, dreams.

Buddhaghosa gives them as babyhood, playtime, trial time, erect time, learning time, ascetic time, prophet time, and prostrate time, with (very necessary) comments on each.

There are eighty-four thousand periods during which both fools and wise alike, wandering in transmigration, shall at last make an end of pain. This cannot be done by virtue, or penance, or righteousness. Ease and pain, measured out as it were with a measure, cannot be altered in the course of transmigration (Saṁsāra); there can be neither increase nor decrease thereof both fools and wise alike, wandering in transmigration, exactly for the allotted term, shall then, and then only, make an end of pain.

Makkhali’s views as given in the Buddhist books are difficult to understand, the Commentators themselves finding it a hopeless task. He seems to have believed in infinite gradations of existence; in his view, each individual thing has eternal existence, if not individually, at least in type. He evidently had definite conceptions of numerous grades of beings, celestial, infernal and mundane, as also of the infinity of time and the recurrent cycles of existence. He seems to have conceived the world as a system in which everything has a place and a function assigned to it, a system in which chance has no place and which admits of no other cause whatever of the depravity or purity of beings, but that which is implied in the word Fate or Destiny (niyati). All types of things and all species of beings, however, are individually capable of transformation that is of elevation or degradation in type. His theory of purification through transmigration (Saṁsārasuddhi) probably meant perfection through transformation (pariṇatā) – transformation which implies not only the process of constant change, but also a fixed orderly mode of progression and retrogression. All things must, in course of time, attain perfection (for a discussion on Makkhali and his doctrines see Barua: Pre-Buddhistic Indian Philosophy, 297ff). Makkhali’s followers are known as the Ājīvakas (q.v.).

According to the books, the Buddha considered Makkhali as the most dangerous of the heretical teachers: “I know not of any other single person fraught with such loss to many folk, such discomfort, such sorrow to Devas and men, as Makkhali, the infatuate (AN.i.33). The Buddha also considered his view the meanest – just as the hair blanket is reckoned the meanest of all woven garments, even so, of all the teachings of recluses, that of Makkhali is the meanest (AN.i.286). Buddhaghosa (DN­a.i.166f) draws particular distinction between the moral effect of Makkhali’s doctrine on the one hand and that of the doctrines of Pūraṇa Kassapa and Ajita on the other. Pūraṇa, by his theory of the passivity of the soul, denied action; Ajita, by his annihilationistic theory denied retribution; whereas Makkhali, by his doctrine of fate or non-causation, denied both action and its result.

Very little is known of the name and the life of Makkhali. The Buddhist records call him Makkhali Gosāla. Buddhaghosa explains (DN­a.i.143f; MN­a.i.422) that he was once employed as a servant; one day, while carrying an oil-pot along a muddy road, he slipped and fell through carelessness, although warned thus by his master: “Mā khali,” (stumble not) – hence his name. When he found that the oil pot was broken, he fled; his master chased him and caught him by his garment, but he left it and ran along naked. He was called Gosāla, because he was born in a cow shed. According to Jaina records (e.g. Uvāsagadasāo, p.1), he is called Gosāla Maṅkhaliputta; he was born at Saravana near Sāvatthī, his father’s name being Maṅkhali and his mother’s Bhaddā. His father was a Maṅkha i.e., a dealer in pictures – and Gosāla followed this profession until he became a monk.

The philosopher’s true name (Barua., op.cit., 298) seems to have been Maskarin, the Jaina Prakrit form of which is Maṅkhali and the Pāli form Makkhali. “Maskarin” is explained by Pāṇinī (VI.i.154) as “one who carries a bamboo staff” (maskara). A Maskarin is also known as Ekadaṇḍī. According to Patañjali (Mahā Bhāsya iii.96), the name indicates a School of Wanderers who were called Maskarins, not so much because they carried a bamboo staff as because they denied the freedom of the will. The Maskarins were thus fatalists or determinists.

Makkhali Gosāla. Một trong sáu đạo sư ngoại đạo cùng thời với Đức Phật. Ông chủ trương rằng không có nguyên nhân nào, dù là cứu cánh hay gián tiếp, dẫn đến sự đọa lạc hay sự đoan chính của chúng sinh. DN.i.53 f.

Makkhali, các quan điểm và những người theo ông cũng được đề cập đến tại MN.i.231, 238, 483, 516f.; SN.i.66, 68; iii.211; iv.398; AN.i.33f., 286; iii.276, 384; cũng xem Ja.i.493, 509; SN.iii.69 lại gán phần đầu tiên trong lời trình bày về các quan điểm của Makkhali (như được đưa ra ở DN.i.53) rằng không có nguyên nhân, không có lý do nào cho sự đọa lạc hay sự thanh tịnh cho Pūraṇa Kassapa. AN.i.286 dường như nhầm lẫn Makkhali với Ajita Kesakambala, và AN.iii.383f. lại trình bày Pūraṇa Kassapa như thể ông là đệ tử của Makkhali.

Việc đạt được bất kỳ hoàn cảnh hay đặc tính nào cũng không phụ thuộc vào hành động của chính mình, hay hành động của người khác, hay vào sự nỗ lực của con người. Không có những thứ gọi là sức mạnh hay nghị lực hay năng lực con người hay sự hăng hái của con người. Tất cả chúng sinh (sattā), mọi sinh mạng (pāṇā), mọi hiện hữu (bhūtā), mọi thực thể sống (jīvā), đều bị khuất phục theo hướng này hay hướng khác bởi số phận của họ, bởi những điều kiện tất yếu của đẳng cấp mà họ thuộc về, bởi bản tính cá nhân của họ; chính tùy thuộc vào vị trí của họ ở một trong sáu đẳng cấp (abhijāti) mà họ cảm thọ sự thoải mái hay sự đau khổ.

Buddhaghosa (DN­a.i.160 ff.) đưa ra các chi tiết về bốn đẳng cấp này để cho thấy chúng được dùng như thế nào nhằm bao hàm tất cả những gì có sự sống trên trái đất này, từ con người cho đến cỏ cây. Nhưng lời giải thích này rất rối rắm và khiến các thuật ngữ hoàn toàn không có tính loại trừ lẫn nhau.

Có mười bốn trăm ngàn giống hoặc loài chính (pamukhayoniyo), và lại có thêm sáu ngàn loài khác nữa rồi lại thêm sáu trăm. Có năm trăm loại kamma – có sáu mươi hai con đường (hay lối ứng xử), sáu mươi hai thời kỳ, sáu đẳng cấp ở con người, tám giai đoạn tồn tại của một nhà tiên tri (atthapurisabhūmi), bốn ngàn chín trăm loại nghề nghiệp, bốn ngàn chín trăm Ājīvaka, bốn ngàn chín trăm Đạo sĩ lang thang (Paribbājaka), bốn ngàn chín trăm trú xứ (hoặc loài) Nāga, hai ngàn sự tồn tại hữu tình (vīse indriyasate), ba ngàn trạng thái địa ngục, ba mươi sáu cõi trời, thế tục hay dục giới (rajodhātuyo), bảy lớp chúng sinh hữu tình (saññigabbhā), hay các chúng sinh có khả năng sinh sản bằng các giới tính tách biệt, bảy sự sinh sản vô tình (asaññigabbhā), bảy sự sinh sản bằng cách chiết ghép (nigaṇṭhagabbhā), bảy cấp bậc chư thiên, con người, ác quỷ, hồ lớn, vách đá, giấc mơ.

Buddhaghosa liệt kê chúng thành: thời thơ ấu, thời vui chơi, thời thử thách, thời đứng thẳng, thời học hỏi, thời tu khổ hạnh, thời tiên tri, và thời phủ phục, cùng với những lời giải thích (rất cần thiết) về mỗi loại.

Có tám mươi bốn ngàn thời kỳ mà trong đó cả kẻ ngu lẫn người trí, khi trôi lăn trong sinh tử luân hồi, cuối cùng sẽ đoạn tận được khổ đau. Điều này không thể được thực hiện bằng giới hạnh, hay bằng sự khổ hạnh, hay bằng sự công chính. Sự thoải mái và sự khổ đau, vốn được đong đếm như thể bằng một cái đấu, không thể bị thay đổi trong quá trình trôi lăn trong luân hồi (Saṁsāra); không thể có sự tăng hay sự giảm của những điều đó, mà cả kẻ ngu lẫn người trí, khi trôi lăn trong luân hồi, đến đúng thời hạn đã định sẵn, khi đó và chỉ khi đó, sẽ đoạn tận khổ đau.

Các quan điểm của Makkhali như được ghi lại trong các sách Phật giáo rất khó hiểu, bản thân các nhà Chú giải cũng nhận thấy đó là một nhiệm vụ vô vọng. Ông dường như tin vào vô số các cấp bậc tồn tại; theo quan điểm của ông, mỗi sự vật riêng lẻ đều tồn tại vĩnh cửu, nếu không phải xét về mặt cá thể, thì ít nhất là ở một thể loại nào đó. Rõ ràng là ông đã có những quan niệm xác định về vô số cấp bậc chúng sinh, từ chư thiên, địa ngục cho đến thế gian, cũng như về sự vô tận của thời gian và các chu kỳ tái diễn của sự hiện hữu. Ông dường như đã hình dung thế giới như một hệ thống mà ở đó mọi thứ đều có một vị trí và một chức năng riêng được phân định, một hệ thống không có chỗ cho sự ngẫu nhiên và cũng không chấp nhận bất kỳ nguyên nhân nào khác cho sự đọa lạc hay sự thanh tịnh của chúng sinh, ngoại trừ những gì được hàm chứa trong từ Số phận hay Định mệnh (niyati). Tuy nhiên, tất cả các loại sự vật và mọi loài chúng sinh, xét về mặt cá thể, đều có khả năng chuyển biến – đó là sự nâng cao hay sự hạ thấp về mặt giống loài. Thuyết thanh lọc thông qua sự luân hồi (Saṁsārasuddhi) của ông có lẽ hàm ý sự hoàn thiện thông qua sự chuyển biến (pariṇatā) – sự chuyển biến không chỉ hàm ý tiến trình thay đổi liên tục, mà còn là một phương thức tiến hóa và thoái hóa có trật tự cố định. Mọi sự vật phải, theo thời gian, đạt đến sự hoàn thiện (để xem một cuộc thảo luận về Makkhali và các giáo lý của ông, hãy xem Barua: Pre-Buddhistic Indian Philosophy, 297ff). Những người theo Makkhali được gọi là các Ājīvaka (xem mục từ này).

Theo các kinh sách, Đức Phật xem Makkhali là người nguy hiểm nhất trong số các đạo sư ngoại đạo: "Ta không thấy một ai khác lại mang đến sự tổn hại cho nhiều người như vậy, mang đến sự khó chịu như vậy, mang đến nỗi sầu muộn cho chư thiên và loài người như vậy, giống như Makkhali, kẻ cuồng si (AN.i.33). Đức Phật cũng xem quan điểm của ông là hèn hạ nhất – hệt như tấm chăn dệt bằng lông tóc bị xem là hèn kém nhất trong tất cả các loại y phục dệt, cũng vậy, trong tất cả các giáo lý của các sa-môn, giáo lý của Makkhali là hèn kém nhất (AN.i.286). Buddhaghosa (DN­a.i.166f) đã phân biệt rõ hệ quả đạo đức của giáo lý Makkhali một bên, và một bên là các giáo lý của Pūraṇa Kassapa và Ajita. Pūraṇa, với thuyết linh hồn thụ động của mình, đã phủ nhận hành động; Ajita, với thuyết đoạn diệt của mình, đã phủ nhận sự báo ứng; trong khi Makkhali, với thuyết định mệnh hay vô nhân của mình, đã phủ nhận cả hành động lẫn kết quả của nó.

Có rất ít thông tin về cái tên và cuộc đời của Makkhali. Các hồ sơ Phật giáo gọi ông là Makkhali Gosāla. Buddhaghosa giải thích (DN­a.i.143f; MN­a.i.422) rằng có lần ông từng làm người hầu; một ngày nọ, trong lúc bê một bình dầu đi trên con đường bùn lầy, do bất cẩn, ông đã trượt chân và ngã, mặc dù đã được người chủ cảnh báo rằng: "Mā khali," (đừng có vấp) – từ đó có cái tên của ông. Khi thấy bình dầu bị vỡ, ông đã bỏ trốn; người chủ đuổi theo và nắm lấy vạt áo của ông, nhưng ông đã bỏ lại chiếc áo và trần truồng bỏ chạy. Ông được gọi là Gosāla, bởi vì ông được sinh ra trong một chuồng bò. Theo các ghi chép của Jaina giáo (ví dụ, Uvāsagadasāo, p.1), ông được gọi là Gosāla Maṅkhaliputta; ông sinh ra ở Saravana gần Sāvatthī, cha ông tên là Maṅkhali và mẹ ông là Bhaddā. Cha của ông là một Maṅkha – tức là người buôn tranh – và Gosāla đã nối nghiệp này cho đến khi trở thành một tu sĩ.

Cái tên thực sự của vị triết gia này (Barua., sách đã dẫn, 298) dường như là Maskarin, dạng Prakrit của Jaina giáo là Maṅkhali và dạng Pāli là Makkhali. "Maskarin" được Pāṇinī (VI.i.154) giải thích là "người mang theo cây gậy tre" (maskara). Một Maskarin cũng được gọi là Ekadaṇḍī. Theo Patañjali (Mahā Bhāsya iii.96), cái tên này dùng để chỉ một Trường phái của các Đạo sĩ lang thang được gọi là Maskarin, không hẳn là vì họ mang gậy tre mà là vì họ phủ nhận sự tự do ý chí. Do đó, các Maskarin là những người theo thuyết định mệnh luận hoặc tất định luận.