Sabbamitta draft

01. Sabbamitta 01 draft

Sabbamitta 01. Sabbamitta Thera. He belonged to a Brahmin family of Sāvatthī, and entered the Saṅgha after seeing the Buddha’s acceptance of Jetavana. He dwelt in the forest, meditating. Once, on his way to Sāvatthī to worship the Buddha, he saw a fawn caught in a trapper’s net. The doe, though not in the net, remained near, out of love for her young, yet not daring to approach the snare. The Thera was much moved by the thought of all the suffering which was caused by love. Farther on he saw bandits wrapping in straw a man whom they had caught and were preparing to set on fire. The Thera was filled with anguish, and, developing insight, won Arahant-ship. He uttered, in his anguish, the two verses included in Thag. 149-50. He preached to the bandits and they joined the Saṅgha under him.

In the time of Tissa Buddha, he was a hunter who lived on game. One day, the Buddha, out of compassion for him, left three of his footprints outside his hut. The hunter saw them, and, owing to good deeds done in the past, recognized them as the Buddha’s, and offered to them koraṇḍa-flowers. After death he was born in Tāvatiṁsa (Thag­a.i.269f). His Apadāna verses are given in two places under the name of Koraṇḍapupphiya (q.v.). Ap.ii.383, 434; cf. Sugandha Thera.

Sabbamitta 01. Sabbamitta Thera. Ngài thuộc một gia đình Bà-la-môn ở Sāvatthī, và gia nhập Tăng đoàn sau khi chứng kiến việc Đức Phật thọ nhận Jetavana. Ngài cư ngụ trong rừng, thực hành thiền định. Có một lần, trên đường ngài đi đến Sāvatthī để đảnh lễ Đức Phật, ngài đã nhìn thấy một con nai con bị mắc kẹt trong lưới của một người bẫy thú. Con nai mẹ, tuy không bị mắc lưới, nhưng vẫn ở gần đó, vì tình thương dành cho con mình, tuy thế không dám đến gần cái bẫy. Vị Thera vô cùng xúc động bởi ý nghĩ về tất cả những đau khổ sinh ra bởi tình yêu thương. Đi xa hơn, ngài nhìn thấy những tên cướp đang dùng rơm quấn quanh một người đàn ông mà chúng đã bắt được và đang chuẩn bị châm lửa đốt. Vị Thera tràn ngập đau đớn, và, phát triển tuệ quán, đã đạt quả vị Arahant. Ngài đã thốt lên, trong sự đau đớn của mình, hai vần kệ bao gồm trong Thag. 149-50. Ngài đã thuyết pháp cho những tên cướp và chúng đã gia nhập Tăng đoàn dưới sự hướng dẫn của ngài.

Vào thời của Tissa Buddha, ngài là một thợ săn sống bằng thú rừng. Một ngày nọ, Đức Phật, vì lòng xót thương đối với ông, đã để lại ba dấu chân của Ngài bên ngoài túp lều của ông. Người thợ săn đã nhìn thấy chúng, và, nhờ vào những phước báu đã tạo trong quá khứ, đã nhận ra chúng là của Đức Phật, và đã cúng dường lên chúng những bông hoa koraṇḍa. Sau khi qua đời ông được tái sinh ở Tāvatiṁsa (Thag­a.i.269f). Những vần kệ Apadāna của ngài được đưa ra ở hai nơi dưới tên là Koraṇḍapupphiya (xem từ này). Ap.ii.383, 434; cf. Sugandha Thera.

02. Sabbamitta 02 draft

Sabbamitta 02. An eminent teacher belonging to the udiccabrāhmaṇakula. He was extremely learned, and was the second teacher employed by Suddhodana to teach the Buddha in his youth. Mil. p. 236.

Sabbamitta 02. Một vị đạo sư xuất chúng thuộc gia đình udiccabrāhmaṇakula. Ông cực kỳ uyên bác, và là vị thầy thứ hai được Suddhodana thuê để dạy cho Đức Phật trong thời niên thiếu của Ngài. Mil. p. 236.

03. Sabbamitta 03 draft

Sabbamitta 03. The constant attendant of Kassapa Buddha. DN.ii.7; Bv.xxv.39; Ja.i.43.

Sabbamitta 03. Vị thị giả thường trực của Kassapa Buddha. DN.ii.7; Bv.xxv.39; Ja.i.43.

04. Sabbamitta 04 draft

Sabbamitta 04. A king of Sāvatthī. See the Kumbhajātaka (Ja 512). He is identified with Ānanda. Ja.v.20.

Sabbamitta 04. Một nhà vua của Sāvatthī. Xem Kumbhajātaka (Ja 512). Ông được nhận diện là Ānanda. Ja.v.20.