Akitti draft
Akitti (v.l. Akatti). The Bodhisatta in one of his births. He was a Brahmin magnate of Benares, who, after giving away all his wealth in charity, retired to the forest with his sister, Yasavatī. When gifts were brought to him as homage to his holiness, he sought obscurity, and, leaving his sister, dwelt in Kāradīpa, then known as Ahidīpa, eating the leaves of a Kāra-tree sprinkled with water. By virtue of his asceticism Sakka’s throne was heated, and Sakka (Anuruddha in a previous birth), having tested him, and being satisfied that worldly attainments were not his aim, granted him various boons, including one that Sakka should not visit him any more and disturb his asceticism! (Ja.iv.236f).
His story is given in the Cariyāpiṭaka (p.1) to illustrate dāna-paramitā. In the Nimijātaka (Ja 541) he is mentioned in a list of eleven sages (Ja.vi.99, the others being the seven brothers Yāmahanu, Somayāga, Manojava, Samudda, Māgha, Bharata and Kālikarakkhiya; and Aṅgīrasa, Kassapa and Kisavaccha. See also Khpa.127f), who, by their holy lives, passed the Peta world to be born in Brahma’s heaven. In the Jātakamālā (no.7) his name occurs as Agastya, but he should not be confused with the Vedic sage of that name (see Vedic Index). Perhaps he belonged to the Kassapagotta, because, in the conversation related in the Jātaka story, Sakka addresses him as “Kassapa.” (Ja.iv.240-1)
Akitti (v.l. Akatti). Bodhisatta trong một kiếp tái sinh. Ngài là một Bà-la-môn quyền quý ở Benares, sau khi bố thí hết tài sản, đã lui về rừng cùng em gái là Yasavatī. Khi có người mang lễ vật đến dâng cúng để tỏ lòng kính ngưỡng đức hạnh của ngài, ngài tìm nơi ẩn dật, rời em gái, và trú tại Kāradīpa, lúc đó được gọi là Ahidīpa, chỉ ăn lá cây Kāra rưới nước. Nhờ công hạnh khổ hạnh của ngài, bảo tọa của Sakka nóng lên, và Sakka (Anuruddha trong một tiền kiếp), sau khi thử thách ngài và hài lòng rằng ngài không nhắm đến các thành tựu thế gian, đã ban cho ngài nhiều ân huệ, trong đó có một ân huệ rằng Sakka sẽ không đến thăm ngài nữa để khỏi quấy nhiễu việc tu khổ hạnh của ngài! (Ja.iv.236f).
Câu chuyện của ngài được kể trong Cariyāpiṭaka (p.1) để minh họa dāna-paramitā (bố thí ba-la-mật). Trong Nimijātaka (Ja 541), ngài được nhắc đến trong một danh sách mười một hiền giả (Ja.vi.99, những vị còn lại là bảy anh em Yāmahanu, Somayāga, Manojava, Samudda, Māgha, Bharata và Kālikarakkhiya; cùng với Aṅgīrasa, Kassapa và Kisavaccha. Cũng xem Khpa.127f), nhờ đời sống thánh thiện đã vượt qua cõi ngạ quỷ để sinh lên cõi Phạm thiên. Trong Jātakamālā (no.7), tên ngài xuất hiện là Agastya, nhưng không nên nhầm lẫn ngài với vị hiền triết Vệ-đà cùng tên (xem Vedic Index). Có lẽ ngài thuộc dòng tộc Kassapagotta, bởi vì trong cuộc đàm thoại được kể trong truyện Jātaka, Sakka gọi ngài là "Kassapa." (Ja.iv.240-1)