Sunāparanta draft
Sunāparanta. A country in which was the port of Suppāraka, birthplace of Puṇṇa Thera. From there he went with a caravan to Sāvatthī, and, after hearing the Buddha preach, entered the Saṅgha. Later, obtaining the Buddha’s permission, he returned to Sunāparanta (Thaga.i.158). There he attained Arahant-ship, and five hundred men and five hundred women became lay followers of the religion. Under his direction they built a Gandhakuṭi, called Candanasālā, and Puṇṇa, wishing the Buddha to be present at the dedication festival, sent a flower through the air to the Buddha at Sāvatthī as invitation.
The Buddha accepted this invitation and went to Sunāparanta with four hundred and ninety-nine Arahants, including Kuṇḍadhāna and Ānanda, all in pinnacled palanquins, provided by Vissakamma, acting under orders from Sakka. On the way the Buddha stopped at Saccabaddhapabbata, where he converted the tāpasa of the mountain, who became an Arahant and travelled on with the party in the five hundredth palanquin. The Buddha spent the day in Sunāparanta, and, on his way back, stopped on the banks of the river Nammadā. There the Nāgarājā paid him homage, and the Buddha left his footprint in the Nāga’s abode for him to worship. MNa.ii.101f.; SNa.iii.176; according to the latter account the Buddha spent seven days in Sunāparanta, at the Maṅkulārāma.
The people of Sunāparanta were reported as being fierce and violent (MN.iii.268; SN.iv.61f). Sunāparanta was also the birthplace of Cūḷa Puṇṇa and Isidinna (Isidatta) (q.v.). Sunāparanta is probably identical with Aparanta; the Burmese, however, identify it with the country on the right bank of the Irrawaddy River, near Pagan. Sās. Introd., p.ix.
Sunāparanta. Một quốc gia nơi có cảng Suppāraka, nơi sinh của Puṇṇa Thera. Từ đó, ông đã đi cùng một đoàn lữ hành đến Sāvatthī, và, sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp, đã gia nhập Tăng đoàn. Sau đó, nhận được sự cho phép của Đức Phật, ông đã trở về Sunāparanta (Thaga.i.158). Ở đó ông đạt được quả vị Arahant, và năm trăm người đàn ông cùng năm trăm phụ nữ đã trở thành những cư sĩ đi theo giáo pháp. Dưới sự chỉ dẫn của ông, họ đã xây dựng một Gandhakuṭi (Hương thất), gọi là Candanasālā, và Puṇṇa, mong muốn Đức Phật có mặt tại lễ cung hiến, đã gửi một bông hoa qua không trung đến Đức Phật ở Sāvatthī như một lời mời.
Đức Phật đã nhận lời mời này và đi đến Sunāparanta cùng với bốn trăm chín mươi chín vị Arahant, bao gồm Kuṇḍadhāna và Ānanda, tất cả đều ngồi trong những chiếc kiệu có đỉnh nhọn, do Vissakamma cung cấp theo lệnh của Sakka. Trên đường đi, Đức Phật dừng lại ở Saccabaddhapabbata, nơi ngài đã hóa độ vị tāpasa (đạo sĩ) của ngọn núi, người đã trở thành một vị Arahant và tiếp tục đi cùng đoàn trong chiếc kiệu thứ năm trăm. Đức Phật đã dành cả ngày ở Sunāparanta, và, trên đường trở về, đã dừng lại trên bờ sông Nammadā. Ở đó vị Nāgarājā đã bày tỏ lòng tôn kính với ngài, và Đức Phật đã để lại dấu chân của ngài trong trú xứ của vị Nāga để vị ấy thờ phụng. MNa.ii.101f.; SNa.iii.176; theo ghi chép sau thì Đức Phật đã trải qua bảy ngày ở Sunāparanta, tại Maṅkulārāma.
Người dân của Sunāparanta được báo cáo là những người hung dữ và bạo lực (MN.iii.268; SN.iv.61f). Sunāparanta cũng là nơi sinh của Cūḷa Puṇṇa và Isidinna (Isidatta) (q.v.). Sunāparanta có lẽ đồng nhất với Aparanta; tuy nhiên, người Miến Điện lại đồng nhất nó với quốc gia nằm trên bờ phải của Sông Irrawaddy, gần Pagan. Sās. Introd., p.ix.