Uttama draft

01. Uttama 01 draft

Uttama 01. Author of the Bālāvatāra­ṭīkā and the Liṅgatthavivaraṇa­ṭīkā. He was a native of Pagan. Gv.63, 73; see also Bode, 22 and n.1.

Uttama 01. Tác giả của Bālāvatāra­ṭīkā và Liṅgatthavivaraṇa­ṭīkā. Ông là người gốc Pagan. Gv.63, 73; xem thêm Bode, 22 và n.1.

02. Uttama 02 draft

Uttama 02. The name given to a cetiya connected with Sikhī Buddha. Āsanatthavika Thera, in a previous birth, came across this cetiya while wandering in the forest and did obeisance to it. Ap.i.255.

Uttama 02. Tên gọi được đặt cho một cetiya có liên quan đến Sikhī Buddha. Āsanatthavika Thera, trong một kiếp trước, đã tình cờ bắt gặp cetiya này khi đang lang thang trong rừng và đã đảnh lễ nó. Ap.i.255.

03. Uttama 03 draft

Uttama 03. A general of Māṇābharaṇa. He was defeated at Vacāvāṭaka by Rakkha. Cv.lxx.295.

Uttama 03. Một vị tướng của Māṇābharaṇa. Ông đã bị đánh bại tại Vacāvāṭaka bởi Rakkha. Cv.lxx.295.

01. Uttamā 01 draft

Uttamā 01. A Therī. She was born in a banker’s family in Sāvatthī and, having heard Paṭācārā preach, entered the Saṅgha. She could not attain the climax of her insight, till Paṭācārā, seeing the state of her mind, gave her admonition. Uttamā thereupon became an Arahant (Thīg.vv.42-4; Thīg­a.46ff).

According to the Apadāna (quoted in Thīg­a.) she joined the Saṅgha at the age of seven and attained Arahant-ship within a fortnight.

In the time of Vipassī Buddha she had been a slave-girl in a house in Bandhumatī. At that time King Bandhumā (Vipassī’s father) kept fast-days, gave alms and attended sermons, and the people followed his pious example. The slave-girl joined in these pious acts, and on account of her thoroughness in the observance of fast-days, she was, after death, reborn in Tāvatiṁsa. She became the chief queen of the king of the Devas sixty-four times, and she was a Cakkavatti’s wife in sixty-three births.

She is evidently identical with Ekūposathikā of the Apadāna. Ap.ii.522f.

Uttamā 01. Một vị Trưởng lão ni (Therī). Bà sinh ra trong một gia đình trưởng giả ở Sāvatthī và, sau khi nghe Paṭācārā thuyết pháp, đã gia nhập Tăng đoàn. Bà không thể đạt đến đỉnh cao của tuệ giác, cho đến khi Paṭācārā, nhìn thấy trạng thái tâm trí của bà, đã đưa ra lời khuyên nhủ. Uttamā ngay sau đó đã trở thành một Arahant (Thīg.vv.42-4; Thīg­a.46ff).

Theo Apadāna (được trích dẫn trong Thīg­a.) bà đã gia nhập Tăng đoàn vào năm bảy tuổi và đạt được quả vị Arahant trong vòng nửa tháng.

Vào thời của Vipassī Buddha, bà từng là một nữ tỳ trong một ngôi nhà ở Bandhumatī. Vào thời điểm đó, vua Bandhumā (cha của Vipassī) đã thọ trì các ngày trai giới, bố thí và tham dự các buổi thuyết pháp, và người dân đã noi theo tấm gương ngoan đạo của ông. Cô nữ tỳ cũng tham gia vào những hành động ngoan đạo này, và nhờ vào sự chu toàn của cô trong việc thọ trì các ngày trai giới, cô đã được tái sinh vào Tāvatiṁsa sau khi qua đời. Bà đã trở thành chánh hậu của vua chư thiên sáu mươi bốn lần, và bà là vợ của một Cakkavatti trong sáu mươi ba kiếp sống.

Bà rõ ràng đồng nhất với Ekūposathikā của Apadāna. Ap.ii.522f.

02. Uttamā 02 draft

Uttamā 02. A Therī. She was the daughter of an eminent Brahmin of Kosala. Having heard the Buddha preach during one of his tours, she left the world and soon won Arahant-ship. She, too, had been a slave girl in Bandhumatī in Vipassī’s time. One day, seeing an Arahant seeking alms, she gladly offered him cakes (Thīg.vv.45-7; Thīg­a.49f).

She is probably identical with Modakadāyikā of the Apadāna (ii.524f).

Uttamā 02. Một vị Trưởng lão ni (Therī). Bà là con gái của một Bà-la-môn lỗi lạc ở Kosala. Sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp trong một chuyến du hành của ngài, bà đã rời bỏ thế gian và nhanh chóng giành được quả vị Arahant. Bà, cũng vậy, từng là một nữ tỳ ở Bandhumatī vào thời của Vipassī. Một ngày nọ, khi nhìn thấy một vị Arahant đang đi khất thực, bà đã vui vẻ cúng dường cho vị ấy những chiếc bánh (Thīg.vv.45-7; Thīg­a.49f).

Bà có lẽ đồng nhất với Modakadāyikā của Apadāna (ii.524f).