Vaṅgīsa Thera draft
Vaṅgīsa Thera. He belonged to a Brahmin family and was proficient in the Vedas. He gained repute by tapping on skulls with his finger nail and telling thereby where the owners of the skull were reborn. During three years he thus gained much money. Then, in spite of the protests of his colleagues, he went to see the Buddha, who gave him the skull of an Arahant (according to the Apadāna, he saw Sāriputta first and learnt from him about the Buddha). Vaṅgīsa could make nothing of this and joined the Saṅgha to learn its secret. He was ordained by Nigrodhakappa, and, meditating on the thirty-two constituents of the body, he won Arahant-ship. He then visited the Buddha again and praised him in various verses, full of similes and metaphors. This brought him reputation as a poet (Kāvyacitta or Kāveyyamatta). Later the Buddha declared him foremost among those pre-eminent in ready expression (paṭibhāṇavantānaṁ). His resolve to attain to this position was made in the time of Padumuttara Buddha. AN.i.24; Dpv.iv.4; Thaga.ii.192ff.; ANa.i.149ff.; Dhpa.iv.226f.; Snpa.i.345f.; Ap.ii.495ff.
The Theragāthā contains numerous verses spoken by him on various occasions (Thag.1208-79; most of these are repeated at SN.i.183ff) some of them (1209-18) uttered about himself, his attempts to suppress desires excited by the sight of gaily-dressed women (Cf. SN.i.185; on one such occasion, he confessed his disaffection to Ānanda, who admonished him); others (1219-22) were self admonitions against conceit because of his facility of speech; some were spoken in praise of sermons preached by the Buddha – e.g., the Subhāsitasutta (1227-30), a Sutta on Nibbāna (1238-45), and a Sutta preached at the Pavāraṇa ceremony (1231-7). Several verses were in praise of his colleagues – e.g. Sāriputta (1231-3), Aññā Koṇḍañña (1246-8), and Moggallāna (1249-51). One of Vaṅgīsa’s long poems (vvs. 1263-74) is addressed to the Buddha, questioning him as to the destiny of his (Vaṅgīsa’s) teacher Nigrodhakappa. The Commentary (Thaga.ii.211) explains that when Nigrodhakappa died Vaṅgīsa was absent and wished to be assured by the Buddha that his teacher had reached Nibbāna. But the poem is more than a question. It is really a eulogy of the Buddha. Another verse (1252) describes the Buddha as he sat surrounded by his monks on the banks of the Gaggarā at Campā.
The Saṁyutta (SN.i.185ff.; SNa.i.207ff) devotes one whole section to Vaṅgīsa, dealing with the incidents connected with his life and giving poems made by him on these occasions. The Milinda (p. 390) also contains a poem attributed to Vaṅgīsa in praise of the Buddha. According to the Apadāna (Ap.ii.497, vs.27), he was called Vaṅgīsa, both because he was born in Vaṅga and also because he was master of the spoken word (vacana). See also Vaṅgīsasutta and Subhāsitasutta.
Vaṅgīsa Thera. Ông thuộc một gia đình Bà-la-môn và thông thạo kinh Vệ-đà (Vedas). Ông nổi tiếng nhờ việc gõ ngón tay vào những hộp sọ và nói cho biết chủ nhân của những hộp sọ đó đã tái sinh ở đâu. Trong ba năm, ông đã kiếm được rất nhiều tiền bằng cách này. Thế rồi, bất chấp những lời phản đối của các đồng đạo, ông đi đến diện kiến đức Phật, và ngài đã đưa cho ông hộp sọ của một vị Arahant (theo Apadāna, ông đã gặp Sāriputta trước tiên và biết về đức Phật thông qua vị này). Vaṅgīsa không thể làm gì với hộp sọ này, thế là ông liền gia nhập Tăng đoàn để tìm hiểu bí quyết của nó. Ông thọ giới với Nigrodhakappa, và nhờ thiền định về ba mươi hai thể trược của cơ thể, ông đã đắc quả vị Arahant. Sau đó, ông lại đến viếng thăm đức Phật và tán thán ngài qua nhiều bài kệ, ngập tràn những hình ảnh so sánh và ẩn dụ. Điều này đã mang lại cho ông danh tiếng của một nhà thơ (Kāvyacitta hoặc Kāveyyamatta). Về sau, đức Phật tuyên bố ông là người xuất chúng nhất trong số những vị đệ tử xuất sắc về khả năng ứng khẩu ngôn từ (paṭibhāṇavantānaṁ). Quyết tâm đạt đến vị trí này của ông đã được lập ra từ thời đức Phật Padumuttara. AN.i.24; Dpv.iv.4; Thaga.ii.192ff.; ANa.i.149ff.; Dhpa.iv.226f.; Snpa.i.345f.; Ap.ii.495ff.
Sách Theragāthā có chứa vô số bài kệ do ông đọc vào nhiều dịp khác nhau (Thag.1208-79; hầu hết trong số này được lặp lại tại SN.i.183ff), một số bài (1209-18) được ông thốt lên về chính bản thân mình, về những nỗ lực của ông nhằm đè nén những dục vọng dấy lên khi nhìn thấy những người phụ nữ ăn mặc lộng lẫy (Cf. SN.i.185; trong một dịp như vậy, ông đã thú nhận sự phiền não của mình với Ānanda, và vị này đã đưa ra những lời khuyên răn cho ông); những bài khác (1219-22) là những lời tự khuyên răn nhằm chống lại sự kiêu ngạo bởi khả năng ngôn từ lưu loát của mình; một số bài được thốt lên để ca ngợi những bài thuyết pháp do đức Phật giảng dạy – vd., bài Subhāsitasutta (1227-30), một bài Sutta về Nibbāna (1238-45), và một bài Sutta được thuyết vào dịp lễ Pavāraṇa (1231-7). Vài bài kệ được dùng để tán thán các bạn đồng đạo của ông – vd., Sāriputta (1231-3), Aññā Koṇḍañña (1246-8), và Moggallāna (1249-51). Một trong những bài thơ dài của Vaṅgīsa (vvs. 1263-74) được gửi gắm đến đức Phật, để hỏi ngài về số phận của người thầy của ông (tức của Vaṅgīsa) là Nigrodhakappa. Chú giải (Thaga.ii.211) giải thích rằng khi Nigrodhakappa viên tịch, Vaṅgīsa đã vắng mặt và muốn được đức Phật đảm bảo rằng người thầy của mình đã đạt đến Nibbāna. Nhưng bài thơ không chỉ đơn thuần là một câu hỏi. Nó thực sự là một khúc ca tán thán đức Phật. Một bài kệ khác (1252) miêu tả hình ảnh đức Phật ngồi giữa vòng vây của các tỳ-kheo trên bờ sông Gaggarā ở Campā.
Kinh Saṁyutta (SN.i.185ff.; SNa.i.207ff) dành trọn một phần cho Vaṅgīsa, đề cập đến những sự kiện liên quan đến cuộc đời ông và đưa ra những bài thơ do ông sáng tác trong những dịp này. Sách Milinda (p. 390) cũng có chứa một bài thơ được gán cho Vaṅgīsa với nội dung ca ngợi đức Phật. Theo Apadāna (Ap.ii.497, vs.27), ông được gọi là Vaṅgīsa, vừa là vì ông sinh ra ở Vaṅga và cũng vì ông là một bậc thầy về lời nói (vacana). Xem thêm Vaṅgīsasutta và Subhāsitasutta.