Vepacitti draft

Vepacitti. An Asura chieftain, who was present with Namuci (Māra) at the preaching of the Mahā Samayasutta (DN.ii.259). It is said that among the Asuras, Vepacitti, Rāhu and Pahārada were the chiefs, e.g., AN­a.ii.758, Vepacitti being the highest (sabbajeṭṭhaka, SN­a.i.263).

Vepacitti was the friend of Rāhu, and when Rāhu seized Candimā and Suriya and these invoked the power of the Buddha, it was to Vepacitti that Rāhu fled for comfort (SN.i.50, 51). The Asuras being once defeated in a fight with the Devas, the latter took Vepacitti prisoner, and brought him, bound hand and foot, to Sakka in the Sudhammā Hall. There Vepacitti reviled and railed at Sakka with scurrilous words, both on entering and on leaving the hall, but Sakka remained silent, and, when questioned by Mātali, said it was not proper for him to bandy words with a fool. SN.i.221f.; cf. SN.iv.201, according to which his bondage caused him no inconvenience so long as he remained with the Devas, but the moment he experienced the wish to rejoin the Asuras, he felt himself bound. Vepacitti’s capture is referred to in Thag.vs.749.

On another occasion Vepacitti suggested that victory should be given to him or to Sakka, according to their excellence in speech. Sakka agreed to this, and Vepacitti, as the older god, was asked to speak a verse. Sakka spoke another, the Devas applauding. Several verses were spoken by each, and both Devas and Asuras decided in favour of Sakka, because Vepacitti’s verses belonged, they said, to the sphere of violence, while those of Sakka belonged to one of concord and harmony (SN.i.222f). Once, when Sakka was revolving in his mind the thought that he should not betray even his enemy, Vepacitti read his thoughts and came up to him. “Stop,” said Sakka, “you are my prisoner”; but Vepacitti reminded him of his thought, and was allowed to go free (SN.i.225).

Buddhaghosa says (SN­a.i.266) that Vepacitti’s original name was Sambara (q.v.). When Sambara refused to give to the seers who visited him a pledge that the Asuras would not harm them, the seers cursed him, and from that time onwards he slept badly and was plagued by nightmares. This so deranged his mind (cittaṁ vepati) that he came to be called Vepacitti (“Crazy nerve”). When Vepacitti lay ill of this disease, Sakka visited him and offered to cure him if he would teach him Sambara’s magic art. Vepacitti consulted the Asuras, and, as they were unwilling, he refused Sakka’s offer, warning him that Sambara, having practised magic, was suffering in purgatory and that he should avoid a similar fate (SN.i.238f).

Buddhaghosa explains that, if Vepacitti had taught him the art, it was Sakka’s intention to take Vepacitti to the seers and persuade them to forgive him (SN­a.i.272). This episode seems to contradict Buddhaghosa’s previous statement that Sambara and Vepacitti were identical. Perhaps, as Mrs. Rhys Davids suggests (KS.i.305, n.4), Sambara was the name of an office rather than that of a person.

Mention is made (SN.i.226) of a visit once paid by Sakka and Vepacitti to a company of seers dwelling in a forest hut. Vepacitti, in his buskins, his sword hanging at his side and his state canopy borne over his head, entered by the main gate, while Sakka, in all humility, used the side gate. Buddhaghosa explains (SN­a.i.265) the strange relations of Sakka and Vepacitti by saying that they were father- and son-in-law, and that they were sometimes at war with each other; sometimes, however, they lived in concord. The Dhammapada Commentary (Dhp­a.i.278; cf. Ja.i.205f) gives the story of the romantic marriage of Sakka to Vepacitti’s daughter, Sujā (q.v.).

According to the Kathāvatthu, other members of Vepacitti’s family appear to have intermarried with the Devas, and the Kathāvatthu Commentary says that a troop of Asuras, belonging to the retinue of Vepacitti, was once freed from the fourfold plane of misery and was taken up among the Devas. See Points of Controversy, p. 211.

The Sanskrit texts call him Vemacitra or Vemacitrī, e.g., Divy., pp. 126, 148; Mvu.iii.138,254.

Vepacitti. Một thủ lĩnh Asura, người đã có mặt cùng với Namuci (Māra) tại buổi thuyết giảng kinh Mahā Samayasutta (DN.ii.259). Người ta nói rằng trong số các Asura, Vepacitti, RāhuPahārada là những vị thủ lĩnh, ví dụ, AN­a.ii.758, Vepacitti là vị cao nhất (sabbajeṭṭhaka, SN­a.i.263).

Vepacitti là bạn của Rāhu, và khi Rāhu bắt giữ CandimāSuriya và họ đã cầu khẩn sức mạnh của Đức Phật, thì chính Vepacitti là người mà Rāhu đã chạy đến để tìm sự an ủi (SN.i.50, 51). Các Asura có một lần bị đánh bại trong một trận chiến với chư thiên, chư thiên đã bắt Vepacitti làm tù binh, trói tay chân ngài và giải đến trước mặt Sakka tại hội trường Sudhammā. Tại đó Vepacitti đã lăng mạ và chửi rủa Sakka bằng những lời lẽ thô tục, cả khi bước vào và khi rời khỏi hội trường, nhưng Sakka vẫn giữ im lặng, và, khi được Mātali hỏi, ngài nói rằng không đáng để ngài phải đôi co với một kẻ ngu ngốc. SN.i.221f.; xem thêm SN.iv.201, theo đó, sự trói buộc của ông không gây ra cho ông bất kỳ sự bất tiện nào miễn là ông vẫn ở cùng chư thiên, nhưng ngay khoảnh khắc ông có mong muốn quay lại với các Asura, ông sẽ cảm thấy mình bị trói buộc. Việc Vepacitti bị bắt được nhắc đến trong Thag.vs.749.

Trong một dịp khác, Vepacitti đề nghị rằng chiến thắng nên được trao cho ông hoặc cho Sakka, dựa trên sự xuất sắc trong lời nói của họ. Sakka đồng ý với điều này, và Vepacitti, với tư cách là vị thần lớn tuổi hơn, được yêu cầu đọc một câu thơ. Sakka đọc một câu thơ khác, và chư thiên đều tán thưởng. Mỗi vị đều đọc vài câu thơ, và cả chư thiên và Asura đều quyết định ủng hộ Sakka, bởi vì các câu thơ của Vepacitti thuộc về phạm vi bạo lực, trong khi của Sakka thuộc về sự hòa hợp và đồng thuận (SN.i.222f). Một lần, khi Sakka đang suy nghĩ trong tâm rằng ngài không nên phản bội ngay cả kẻ thù của mình, Vepacitti đã đọc được suy nghĩ của ngài và tiến đến chỗ ngài. "Dừng lại," Sakka nói, "ngươi là tù nhân của ta"; nhưng Vepacitti nhắc nhở ngài về suy nghĩ của ngài, và được thả tự do (SN.i.225).

Buddhaghosa nói (SN­a.i.266) rằng tên thật của Vepacitti là Sambara (q.v.). Khi Sambara từ chối đưa ra lời thề cho các nhà hiền triết đến viếng thăm ngài rằng các Asura sẽ không làm hại họ, các nhà hiền triết đã nguyền rủa ngài, và từ đó trở đi ngài ngủ không ngon giấc và bị ám ảnh bởi những cơn ác mộng. Điều này làm cho tâm trí ngài bị loạn (cittaṁ vepati) đến nỗi ngài được gọi là Vepacitti ("Thần kinh điên loạn"). Khi Vepacitti lâm bệnh do căn bệnh này, Sakka đã đến thăm ông và đề nghị chữa trị cho ông nếu ông dạy cho ngài ma thuật của Sambara. Vepacitti tham khảo ý kiến các Asura, và, vì họ không sẵn lòng, ông đã từ chối lời đề nghị của Sakka, cảnh báo ngài rằng Sambara, do đã thực hành ma thuật, đang chịu khổ trong địa ngục và rằng ngài nên tránh một số phận tương tự (SN.i.238f).

Buddhaghosa giải thích rằng, nếu Vepacitti dạy ngài môn ma thuật này, ý định của Sakka là sẽ đưa Vepacitti đến chỗ các nhà hiền triết và thuyết phục họ tha thứ cho ông (SN­a.i.272). Chi tiết này dường như mâu thuẫn với nhận định trước đó của Buddhaghosa rằng Sambara và Vepacitti là cùng một người. Có lẽ, như bà Rhys Davids đề xuất (KS.i.305, n.4), Sambara là tên của một chức vụ chứ không phải là của một người.

Có nhắc đến (SN.i.226) về một chuyến viếng thăm của Sakka và Vepacitti đến chỗ một nhóm các nhà hiền triết đang sống trong một túp lều trong rừng. Vepacitti, mang giày ủng, đeo gươm bên hông và có lọng che trên đầu, bước vào bằng cổng chính, trong khi Sakka, với tất cả sự khiêm nhường, sử dụng cổng phụ. Buddhaghosa giải thích (SN­a.i.265) về mối quan hệ kỳ lạ của Sakka và Vepacitti bằng cách nói rằng họ là cha vợ và con rể, và đôi khi họ có chiến tranh với nhau; tuy nhiên, đôi khi họ sống trong sự hòa thuận. Chú giải Dhammapada (Dhp­a.i.278; xem thêm Ja.i.205f) đưa ra câu chuyện về cuộc hôn nhân lãng mạn của Sakka với con gái của Vepacitti, Sujā (q.v.).

Theo Kathāvatthu, các thành viên khác trong gia đình của Vepacitti dường như đã kết hôn với chư thiên, và Chú giải Kathāvatthu nói rằng một nhóm Asura, thuộc tùy tùng của Vepacitti, đã có một lần được giải thoát khỏi bốn cõi khổ và được đưa lên giữa chư thiên. Xem Points of Controversy, p. 211.

Các văn bản tiếng Phạn gọi ngài là Vemacitra hoặc Vemacitrī, ví dụ, Divy., pp. 126, 148; Mvu.iii.138,254.