Ekadhammasavaṇiya Thera draft

01. Ekadhammasavaṇiya Thera 01 draft

Ekadhammasavaṇiya Thera 01. He was the son of a banker in Setavyā and he went to see the Buddha who was visiting the town and staying in the Siṁsapā-wood. The Buddha preached to him on the impermanence of all component things and at the end of the sermon he became an Arahant. He received his name because he won insight by hearing the Dhamma only once.

In the time of Padumuttara Buddha he was a tree-sprite and, coming across some monks who had lost their way, he looked after them, gave them food and directed them to their destination. After the death of Kassapa Buddha, he was born as the son of Suyāma and great-grandson of Kikī and became king of Benares under the name of Kikī Brahmadatta. Not finding anyone capable of preaching the Dhamma to him, he left his throne in disgust and started on his way to Himavā. As he went along the road, Sakka appeared before him and quoted to him some lines on the impermanence of all things. Satisfied therewith, the king returned to his capital (Thag.v.67; Thag­a.i.151f).

The Apadāna verses regarding this Thera quoted in the Theragāthā Commentary are, in the Apadāna itself (i.152f), attributed to an Elder named Maggasaññaka, with whom he is evidently to be identified. Five kappas ago he became king twelve times under the name of Sacakkhu.

Ekadhammasavaṇiya Thera 01. Ngài là con trai của một trưởng giả ở Setavyā, và ngài đến gặp Đức Phật, bấy giờ đang viếng thị trấn và trú trong rừng Siṁsapā. Đức Phật thuyết cho ngài về tính vô thường của tất cả các pháp hữu vi, và cuối bài pháp ngài trở thành một Arahant. Ngài được đặt tên như vậy vì đã chứng đạt tuệ giác chỉ nhờ nghe Pháp một lần.

Vào thời Padumuttara Buddha, ngài là một thọ thần và, gặp một số tu sĩ bị lạc đường, ngài chăm sóc họ, cho họ thức ăn và chỉ đường cho họ đến nơi cần đến. Sau khi Kassapa Buddha qua đời, ngài sinh làm con trai của Suyāma và chắt của Kikī, rồi trở thành vua của Benares dưới tên Kikī Brahmadatta. Không tìm thấy ai có khả năng thuyết Pháp cho mình, ngài chán nản rời bỏ ngai vàng và lên đường đến Himavā. Khi ngài đi dọc đường, Sakka xuất hiện trước mặt ngài và đọc cho ngài nghe vài câu kệ về tính vô thường của tất cả mọi sự. Hài lòng với điều ấy, nhà vua trở về kinh đô của mình (Thag.v.67; Thag­a.i.151f).

Các kệ Apadāna liên quan đến vị Thera này được trích trong Chú giải Theragāthā, nhưng trong chính Apadāna (i.152f) lại được quy cho một vị Trưởng lão tên Maggasaññaka, người mà rõ ràng ngài được đồng nhất với. Năm kappa trước, ngài trở thành vua mười hai lần dưới tên Sacakkhu.

02. Ekadhammasavaṇiya Thera 02 draft

Ekadhammasavaṇiya Thera 02. An Arahant. In the time of Padumuttara he was a Jaṭila of great power. Once when journeying through the air he found his progress suddenly stopped and, on investigation, discovered that below him, on the ground, the Buddha was preaching. He listened to the sermon, which dealt with impermanence, and, returning to his hermitage, meditated on this topic. Later he was born in Tāvatiṁsa. Fifty-one times he reigned as king of heaven for thirty thousand kappas and twenty-one times he was king of men. In this last life he heard a monk in his father’s house preaching a sermon in reference to the impermanence of all component things. At the end of the sermon he remembered his former attainments and, seated there, reached Arahant-ship. He was only seven years old at the time. Ap.ii.385.

Ekadhammasavaṇiya Thera 02. Một Arahant. Vào thời Padumuttara, ngài là một Jaṭila có đại năng lực. Một lần, khi đang du hành trên không, ngài thấy đường đi của mình đột nhiên bị chặn lại; sau khi tìm hiểu, ngài phát hiện rằng bên dưới mình, trên mặt đất, Đức Phật đang thuyết pháp. Ngài lắng nghe bài pháp, nói về vô thường, rồi trở về am thất và thiền quán về đề mục này. Về sau ngài sinh vào Tāvatiṁsa. Trong ba mươi nghìn kappa, ngài đã trị vì năm mươi mốt lần làm vua cõi trời và hai mươi mốt lần làm vua loài người. Trong đời cuối cùng này, ngài nghe một vị tu sĩ trong nhà cha mình thuyết một bài pháp liên quan đến tính vô thường của tất cả các pháp hữu vi. Cuối bài pháp, ngài nhớ lại các chứng đạt trước kia của mình và, ngay khi đang ngồi tại đó, chứng quả vị Arahant. Lúc ấy ngài chỉ mới bảy tuổi. Ap.ii.385.