Ekuddāna Thera draft
Ekuddāna Thera (Ekuddāniya Thera, Ekudāna Thera). An Arahant. He was the son of a wealthy Brahmin of Sāvatthī, and being convinced of the Buddha’s majesty, as seen at the presentation of the Jetavana, he entered the Saṅgha. He dwelt in the forest fulfilling his novitiate, and once came to the Buddha to learn of him. The Buddha, seeing Sāriputta near him wrapt in contemplation, uttered a stanza, that to the monk of lofty thoughts and heedful, sorrow comes not (See Dhammapada 259). The monk learnt this stanza, and returning to the forest, ever and anon reflected on it. He thus came to be called Ekuddāniya. One day he obtained insight and became an Arahant. Later, when Ānanda asked him to preach a sermon, it was this stanza that he took as his text.
We are told that in the time of Atthadassī Buddha he was a chief of the Yakkhas, and when the Buddha died he went about lamenting that he had not made use of his opportunities. A disciple of the Buddha, named Sāgara, meeting him, advised him to make offering to the Buddha’s Thūpa. In Kassapa’s time he was a householder, and heard the Buddha utter the stanza mentioned above. He entered the Saṅgha, and for twenty thousand years practised meditation, repeating the stanza, but gained no attainment (Thaga.i.153f; Thag.v.68).
It is said (Dhpa.iii.384f) that on fast-days Ekuddāna, alone in the forest, sounded the call for the deities of the forest to attend the preaching of the Dhamma, and uttered his stanza, whereupon the deities made loud applause. One fast-day two monks, versed in the Tipiṭaka, visited Ekuddāna with a retinue of five hundred each. Seeing them, Ekuddāna’s heart was glad and he said: “Today we will listen to the Dhamma.” On being asked for an explanation, he described how, when the Dhamma was expounded, the forest grove was filled with the applause of Devas. Thereupon one of the Elders recited the Dhamma and the other expounded it, but there was no sound. In order to dispel their doubts, Ekuddāna took his seat and pronounced his one stanza. The sound of the plaudits of the Devas filled the forest. The Elders were greatly offended at the conduct of the Devas and complained to the Buddha. The Buddha explained to them that the important thing was not the amount of knowledge but the quality of the understanding.
It is noteworthy that the verse, attributed above to Ekuddāniya, occurs in the Vinaya (Vin.iv.54) as having been constantly used by Cūḷa Panthaka. Whenever it was his turn to preach to the nuns at Sāvatthī they expected no effective lesson, since he always repeated the same stanza, namely, that which is above attributed to Ekuddāniya. The Thera, bearing of their remarks, forthwith gives an exhibition of his iddhi-power and of his knowledge of the Dhamma, thereby winning their tribute of admiration.
Ekuddāna Thera (Ekuddāniya Thera, Ekudāna Thera). Một vị Arahant. Ngài là con trai của một vị Bà-la-môn giàu có ở Sāvatthī, và sau khi được thuyết phục bởi sự uy nghiêm của Đức Phật, như đã thấy tại buổi lễ dâng cúng tịnh xá Jetavana, ngài đã gia nhập Tăng đoàn. Ngài sống trong rừng để hoàn thành thời kỳ tập sự của mình, và một lần ngài đến gặp Đức Phật để học hỏi từ ngài. Đức Phật, nhìn thấy Sāriputta gần đó đang chìm trong thiền định, đã thốt lên một bài kệ, rằng đối với vị tỳ-kheo có những tư tưởng cao thượng và không phóng dật, sầu khổ sẽ không đến (Xem Dhammapada 259). Vị tỳ-kheo đã học thuộc bài kệ này, và khi trở về rừng, ngài thường xuyên suy niệm về nó. Từ đó ngài được gọi là Ekuddāniya. Một ngày nọ ngài đạt được tuệ quán và trở thành một vị Arahant. Về sau, khi Ānanda thỉnh ngài thuyết một bài pháp, ngài đã lấy bài kệ này làm chủ đề thuyết pháp.
Người ta kể rằng vào thời của Atthadassī Buddha ngài là một thủ lĩnh của loài Yakkha, và khi Đức Phật nhập diệt ngài đã đi khắp nơi than thở rằng ngài đã không tận dụng tốt những cơ hội của mình. Một đệ tử của Đức Phật, tên là Sāgara, khi gặp ngài, đã khuyên ngài nên thực hiện cúng dường tại Thūpa của Đức Phật. Vào thời của Kassapa ngài là một gia chủ, và đã nghe Đức Phật thốt lên bài kệ được đề cập ở trên. Ngài đã gia nhập Tăng đoàn, và trong suốt hai mươi ngàn năm đã thực hành thiền định, lặp đi lặp lại bài kệ đó, nhưng không đạt được chứng quả nào (Thaga.i.153f; Thag.v.68).
Người ta nói rằng (Dhpa.iii.384f) vào các ngày trai giới, Ekuddāna, một mình trong rừng, đã vang lên lời kêu gọi chư thiên của khu rừng đến dự buổi thuyết giảng Pháp, và ngài đọc bài kệ của mình, sau đó chư thiên vỗ tay tán thưởng vang dội. Một ngày trai giới nọ, hai vị tỳ-kheo, tinh thông Tipiṭaka, đã đến thăm Ekuddāna cùng với một đoàn tùy tùng gồm năm trăm vị cho mỗi người. Nhìn thấy họ, lòng Ekuddāna rất hoan hỷ và ngài nói: "Hôm nay chúng ta sẽ lắng nghe Pháp." Khi được yêu cầu giải thích, ngài đã kể lại việc khi Pháp được thuyết giảng, khu rừng tràn ngập tiếng tán thưởng của chư thiên ra sao. Tiếp đó, một vị Trưởng lão đã tụng đọc Pháp và vị kia đã giảng giải, nhưng không có một tiếng động nào. Để xua tan những nghi ngờ của họ, Ekuddāna đã ngồi xuống chỗ của mình và tuyên xướng bài kệ duy nhất của mình. Tiếng tán thưởng của chư thiên vang dội khắp khu rừng. Các vị Trưởng lão đã vô cùng phật ý trước hành động của chư thiên và đã than phiền với Đức Phật. Đức Phật đã giải thích cho họ rằng điều quan trọng không phải là lượng kiến thức mà là chất lượng của sự thấu hiểu.
Điều đáng chú ý là bài kệ, được cho là của Ekuddāniya ở trên, xuất hiện trong Vinaya (Vin.iv.54) như một bài kệ đã được Cūḷa Panthaka thường xuyên sử dụng. Bất cứ khi nào đến lượt ngài thuyết pháp cho các tỳ-kheo-ni ở Sāvatthī, họ không kỳ vọng một bài học nào hiệu quả, vì ngài luôn lặp lại cùng một bài kệ, cụ thể là, bài kệ mà ở trên đã được cho là của Ekuddāniya. Vị Trưởng lão, khi nghe được những lời bàn tán của họ, lập tức đã thực hiện một màn phô diễn thần thông iddhi và sự hiểu biết về Pháp của ngài, qua đó giành được sự khâm phục ngợi khen của họ.