Tapassu draft

01. Tapassu 01 draft

Tapassu 01. Tapussa. A merchant of Ukkala. He and his friend, Bhalluka (Bhalliya), while on their way to Rājagaha, saw the Buddha at the foot of the Rājāyatana tree, in the eighth week after the Awakening. Urged by a deity, who had been their relation, they offered the Buddha rice-cakes and honey in a bowl provided by the Four Regent Gods. They became the first lay disciples of the Buddha, and their formula of Refuge contained no reference to the Saṅgha (Vin.i.3f; AN.i.26; Ud­a.54; Ja.i.80).

According to the Theragāthā Commentary (i.48f), Tapassu and Bhalluka were brothers, sons of a caravan leader of Pokkharavatī. Some time later they visited the Buddha at Rājagaha, where he preached to them; Tapassu, thereupon, became a Sotāpanna, while Bhalluka entered the Saṅgha and became an Arahant.

In the time of Sikhī Buddha they were Brahmins of Aruṇavatī. Hearing that two caravan leaders, Ujita and Ojita, had given the first meal to the Buddha, they gave alms to the Buddha and his monks, and wished for a similar privilege for themselves under a future Buddha. In the time of Kassapa Buddha, they were sons of Gopāla seṭṭhi, and for many years provided the monks with milk-rice.

The Aṅguttara Commentary (AN­a.i.207f) says that the deity, who caused Tapassu and Bhalluka to give alms to the Buddha, was their mother in their previous birth. The Buddha gave them, for worship, eight handfuls of his hair, which he obtained by stroking his head. They took the hair with them to their city – which, according to this account, was Asitañjana – and there built a cetiya, from which rays of blue light issued on fast-days. Tapassu is called a dvevācikaupāsaka (AN­a.ii.696), and is included in a list of eminent upāsakas. AN.iii.450. The Sanskrit books call him Trapuṣa (Divy.393; Mvu.iii.303.)

See also Tapassusutta below.

Tapassu 01. Tapussa. Một thương gia ở Ukkala. Ông cùng người bạn của mình, Bhalluka (Bhalliya), trong lúc đang trên đường đến Rājagaha, đã nhìn thấy Đức Phật dưới cội cây Rājāyatana, vào tuần thứ tám sau khi ngài Giác ngộ. Dưới sự thôi thúc của một vị thiên nhân, người từng là thân quyến của họ, hai ông đã dâng lên Đức Phật bánh gạo và mật ong đựng trong một chiếc bát do Tứ Đại Thiên Vương (Four Regent Gods) dâng tặng. Hai ông trở thành những đệ tử tại gia đầu tiên của Đức Phật, và lời tuyên thệ nương tựa của họ không có sự nhắc đến Tăng đoàn (Vin.i.3f; AN.i.26; Ud­a.54; Ja.i.80).

Theo Theragāthā Commentary (i.48f), Tapassu và Bhalluka là hai anh em, con trai của một thương trưởng ở Pokkharavatī. Một thời gian sau họ đã đến yết kiến Đức Phật tại Rājagaha, nơi ngài thuyết pháp cho họ nghe; lúc bấy giờ, Tapassu trở thành một Sotāpanna (bậc Dự lưu), trong khi Bhalluka gia nhập Tăng đoàn và trở thành một Arahant.

Vào thời của Sikhī Buddha, họ là hai vị Bà-la-môn xứ Aruṇavatī. Nghe tin hai thương trưởng, UjitaOjita, đã cúng dường bữa ăn đầu tiên cho Đức Phật, họ bèn sắm sửa lễ vật cúng dường lên Đức Phật và các vị tỳ-kheo của ngài, với mong muốn sẽ có được đặc ân tương tự dưới thời của một vị Phật trong tương lai. Vào thời Kassapa Buddha, họ là con trai của seṭṭhi Gopāla, và trong nhiều năm đã cúng dường cháo sữa cho các vị tỳ-kheo.

Aṅguttara Commentary (AN­a.i.207f) kể rằng vị thiên nhân đã khiến Tapassu và Bhalluka dâng thức ăn cho Đức Phật chính là mẹ của họ trong tiền kiếp. Đức Phật ban cho họ, để họ tôn thờ, tám nắm tóc của ngài, những sợi tóc mà ngài có được bằng cách vuốt tay lên đầu. Họ đã mang những sợi tóc này về kinh đô của mình – nơi mà, theo tài liệu này thì là Asitañjana – và xây dựng một bảo tháp (cetiya) tại đó, bảo tháp này thường phát ra những luồng ánh sáng xanh vào những ngày trai giới. Tapassu được gọi là một dvevācikaupāsaka (AN­a.ii.696), và được xếp vào danh sách các vị upāsaka (cư sĩ nam) xuất chúng. AN.iii.450. Các sách tiếng Phạn gọi ông là Trapuṣa (Divy.393; Mvu.iii.303.)

Xem thêm Tapassusutta bên dưới.

02. Tapassu 02 draft

Tapassu 02. Chief of the lay disciples of Dīpaṅkara Buddha. Bv.ii.215.

Tapassu 02. Vị đứng đầu các đệ tử tại gia của Dīpaṅkara Buddha. Bv.ii.215.